CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

QUÝT GIẤY HƯƠNG CẦN - PHAN NI TẤN

 

                                            


QUÍT GIẤY HƯƠNG CẦN
(tìm hiểu văn hóa)

Hương Cần, một danh xưng giản dị, mộc mạc, lành như đất, hiền như người làng Hương Cần, quê mạ tôi.
Hương Cần, thuộc xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên–Huế. Làng nằm bên sông Bồ cách thành phố Huế khoảng 8 cây số về hướng Bắc.
Hồi tôi còn nhỏ Hương Cần và tôi có chút nhớ mà về chiều tôi vẫn nhớ hoài. Số là hồi đó nghe người lớn nói quít Hương Cần là loại "quít giấy" làm tôi cứ nâng niu, mò mẫm trái quít tìm hoài vẫn không thấy "giấy" đâu hết. Hỏi thì mạ tôi giải thích "Gọi quít giấy là vì vỏ quít mỏng như giấy" tôi mới vỡ lẽ.
Về sau tìm hiểu thêm thì tôi được biết quít giấy Hương Cần nổi tiếng dược trồng trên đất phù sa sông Bồ. Quít giấy Hương Cần có đặc điểm khác với các loại quít khác là khi chín trái có màu vàng cam, ở phần cuống thì màu xanh lá cây. Vỏ xốp mỏng như giấy rất dễ lột vỏ, có mùi thơm đặc biệt, múi quít màu hồng nhạt dễ tách ra từng múi, vị ngọt và thanh.
Đây là một trong những giống quít ngọt được ưa chuộng nhất nước không những vì mùi vị thanh tao của nó mà còn vì câu chuyện lịch sử phía sau nó.
Chuyện ngày xưa kể lại rằng, ngày xưa có một vị vua nhà Nguyễn vi hành ghé thăm làng Hương Cần, người dân mang quít tiến vua. Nhà vua sửng sốt ngay từ lần thử đầu tiên vì mùi vị của của nó và ban thưởng cho dân làng vì đã phát hiện và bảo tồn giống cây quý. Kể từ đó về sau, hằng năm đến mùa quít, dân làng mở hội tuyển chọn những trái quít ngon nhất để tiến vua. Từ đó, tiếng thơm của Quít giấy Hương Cần ngày càng vang xa cho đến ngày nay. Sinh thời Nguyễn Du và Tùng Thiện Vương đều làm thơ ca tụng.
Bài thơ "Tống Nhân" trong tập Nam Trung Tạp Ngâm của nhà thơ Nguyễn Du được Quách Tấn dịch, như sau:
Tống Nhân
Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh
Giang Bắc, Giang Nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
Cố hương thuần lão thượng cam khanh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu
Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh Tiễn bạn

**
Hương Cần đường liễu dập dờn xanh
Bến Bắc, bờ Nam vô hạn tình
Oanh trẻ vườn vua ganh nét đẹp
Thuần già quê cũ ngọt ngon canh
Trân cam mừng bác thân lo vẹn
Trúc thạch cười tôi nguyện chẳng thành
Thưởng thức giường khuya nương bóng lẻ
Chẳng kham mưa gió sụt sùi canh.

Bài thơ về trái quýt ở Hương Cần của nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm trong Thương Sơn thi tập như sau:
Quất chi từ
(Đồng chư công phú)
Ngũ nguyệt thanh thanh thập nguyệt hoàng,
Kỷ trùng phong vũ kỷ trùng sương.
Cam tâm phẫu tự tình nhân thủ,
Yêu thức nông gia triệt cốt hương.
Lời trái quit
Tháng năm xanh tháng mười vàng,
Trải bao mưa gió trải bao sương.
Lòng mong được tự người yêu bóc,
Để biết mình thơm ngát tận xương.

Huế là đất "trời hành cơn lụt mỗi năm" rứa mà đâu đâu trên mảnh đất miền Trung eo hẹp của Huế đều được dân gian truyền tụng:
Quýt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trạng cung Diên
Nhãn lồng Phụng Tiên
Đào tiên Thế Miếu
Thanh trà Nguyệt Biều
Dâu da rừng Truồi
Hột sen hồ Tịnh.

Nói về quít Hương Cần có lần o Hương ở Huế tâm tình dễ thương như ri: "Quít Hương Cần nhớ xưa ngoại có trồng mấy cây gần ngõ vô nhà. Đi ngang qua nó thơm chi lạ. Thơm mùi hoa, mùi lá. Còn H cứ hái quả cất trong túi áo chơi một chặp lại lấy ra đưa lên mũi hít hà như sợ mùi thơm của nó sẽ bay đi mất. Nhớ hoài. H nhớ cây cao như cây chanh nhưng tán ko xòe ra mà vươn lên cao hơn và lá xanh dày hơn. Hái lá vò trong tay thơm cả ngày. Gai cứng hơn gai chanh".
Khí hậu nước Việt Nam thường nồng nã, nắng ấm quanh năm rất thích hơp với loại quít giấy. Nhất là được người làng trồng trên đất phù sa sông Bồ. Nói về cây lá và mùa màng Quỳnh Nga có thơ rất hay:
Trên những chiếc lá xanh
Mùa lửa cháy
Tôi nghe mùi diệp lục thở
Trên tay em
Mùa hạ đương về !
Còn tôi, tôi nay vẫn quyến luyến mãi làng Hương Cần quê mạ tôi và trái quít giấy đã xa tôi ròng rã ngót 63 năm trời. Năm nay tôi 78 tuổi, dù rứa mùi của quít giấy Hương Cần vẫn thơm mãi trong hồn tôi.


PHAN NI TẤN

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

BỤT LÀ ...LÒNG. - TRẦN HỮU NGƯ

 


BỤT LÀ… LÒNG!

Dâm bụt còn có tên là Mộc cận. Cây không cao, cành nhỏ, nhìn không có nét dịu dàng, vì nó được sinh ra nơi “đồng chua nước mặn”.
Ở nhà quê, Dâm bụt thường trồng làm hàng rào, nếu chịu khó cắt tỉa, dâm bụt cho ta một hàng rào vừa đẹp lại vừa có hoa, mà là thứ hoa nở quanh năm. Hoa Dâm bụt là hoa “nhà quê”, vì ở quê nhà nào cũng có, nó mọc bất cứ ở nơi đâu. Một thứ hoa dễ trồng, chỉ cần chặt cành găm xuống đất là sống khỏe, bất chấp thời tiết và không cần người tưới nước, và là một thứ hoa không sợ… mất trộm!
Trong Quốc âm Thi tập, có đăng bài cây “Mộc cận” của nhà văn hóa Nguyễn Trãi, mà dân gian thường gọi tên là hoa “Dâm bụt”:
“Ánh nước hoa in một đóa hồng
Vết nhơ chẳng bén, bụt là lòng
Chiều mai nở chiều hôm rụng
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không”.
Qua bài thơ, ta thấy cụ Nguyễn Trãi rất yêu hoa Dâm bụt, dù loài hoa này không quý phái như hoa hồng, không thanh cao như hoa sen, không thuần khiết như lan huệ cúc… Nhưng ông mượn Dâm bụt để nói đến Phật tâm, cho dù đời hoa “Chiều mai nở, chiều hôm rụng” và trong cái “nở, tàn” ấy là biểu hiện sắc sắc không không theo quan niệm của nhà Phật.
Nhắc đến hoa Dâm bụt, tôi nhớ hàng rào Dâm bụt của của ông bạn hàng xóm. Cho dù thời tiết bất thường, trời chợt mưa chợt nắng nhưng vẫn đâm hoa xanh lá. Dâm bụt trổ hoa bốn mùa, màu đỏ pha chút hồng phai, dù không “bắt mắt” như lan, mai, đào cúc, hồng, hồ điệp…, nhưng nó là một loài hoa đặc trưng của làng quê - một làng quê đích thực ở thời kỳ chưa đô thị hóa - và gần như thời ấy nhà nào cũng có.
Những năm 50, ở nhà quê, thường thì nhà có đất rộng, vườn to, nghĩa là nhà của điền chủ, nhà phú hộ, nhà ông Trùm, ông Hương, ông Lý, còn nhà nghèo thì tệ lắm cũng có một vài sào đất để nuôi con vịt con gà…, họ thường rào sân nhà bằng những hàng cây Dâm bụt, còn bần nông thì chẳng có gì để mất, nên họ chỉ trồng vài cây trước nhà để nhìn cho có chút niềm vui mà sống với làng quê!
Những hàng rào Dâm bụt thẳng tắp, trồng đan xen khít với nhau, con gà không chui qua được, con chó cũng chịu thua, ăn trộm cũng khó vào… Ngày ấy, bên hàng Dâm bụt có những câu chuyện tình đẹp như hoa Dâm bụt. Trai gái nói chuyện với nhau bên này bên kia hàng rào Dâm bụt trước khi ra đồng, khi mặt trời vừa lú, trâu vừa ra chuồng nghé ngọ. Họ tản mát làm lụng, chiều lững thững về nhà, nhưng còn nán lại bên hàng rào Dâm bụt để chào nhau khi hoàng hôn sắp tắt. Họ cho nhau những hình ảnh đầy lãng mạn của những năm chiến tranh, nhưng rất thanh bình. Những cặp tình nhân ấy dù không biết “sắc sắc, không không”, nhưng họ tỏ tình bên hàng Dâm bụt bao giờ cũng son sắc vì “Bụt là… lòng” mà!
Cây Dâm bụt cắt cành, trồng xuống không phân, không nước, không cần người chăm bón, nhưng nó vẫn sống khỏe sống tốt, sống dẻo dai, bất chấp mưa nắng gió táp bão bùng… Dâm bụt cho hoa bốn mùa, màu hồng đỏ, không chói chan, không kiêu sa, có điều, hoa Dâm bụt chỉ để ngắm, (giống như cuộc đời này có những thứ chỉ để ngắm, đôi khi cấm sờ vào hiện vật !), đặc biệt loài hoa này không thể cắt rời khỏi cành để cắm vào lọ. Lìa cành là hoa sẽ chết, chứng tỏ rằng hoa Dâm bụt không thể sống thiếu cành, thiếu quần thể và thiếu… đất, nó mang tính chất của những người nông dân sống theo thôn xóm làng xã và cũng không thể sống… thiếu đất!
Ông bạn hàng xóm đã có lần nói với tôi:
-Con cháu nó bảo mình chặt bỏ hàng rào này để xây tường rào cho “bằng chị bằng em”, nhưng mình phản đối, mình không thích “cao tường kín cổng”, vả lại, cái hàng rào này do ông bà để lại, cho mình nhiều kỷ niệm từ lúc tụi nó chưa ra đời.
Ông buồn rầu tiếp:
-Làng quê mình bây giờ nhìn đâu cũng thấy dây điện, cột ăng ten, hàng quán xanh đỏ… chỉ có hàng Dâm bụt này, hàng ngày ra vào nhìn nó mới thấy lòng mình thanh thản ông ạ ! Và nếu phải xa nhà, xa quê, mình nhớ nhà, nhớ quê thì ít, mà nhớ hàng Dâm bụt thì nhiều, cho dù Bụt “chiều mai nở, chiều hôm rụng!”.
Nghe ông bạn nói, tôi thấy chạnh lòng, một người biết giữ một nét đẹp văn hóa dù rất nhỏ: Hàng Dâm bụt!
Làng quê bây giờ tìm đỏ con mắt không thấy hàng rào Dâm bụt, nếu có ai đó biết có giữ lại, chắc nó cũng cảm thấy cô đơn trước những bức tường rào bằng gạch đá tua tủa những dây kẽm gai nhìn là thấy nhức con mắt.
Làng quê bây giờ mất nhiều thứ quá, dù những thứ ấy nó nhỏ thôi nhưng lâu ngày không thấy lại nhớ, như buồng chuối sau hè, cây cau đầu ngõ, chiều xuống thấy những con chim vội vàng tìm chỗ ngủ, và đêm về nghe một thứ âm thanh đồng quê khó mà đoán được xa gần, ở đâu, có đôi khi chỉ là tiếng kêu của một con nhái nằm gần lu nước sau hè…. Tất cả những thứ quê mùa ấy, đã thấm trong máu trong thịt của những người sinh ra và lớn lên bên bờ tre góc ruộng, nhưng nay vì một hoàn cảnh nào đó phải xa quê!
Có lẽ ông bạn hàng xóm tôi có lý khi giữ lại hàng rào Dâm bụt này, ngoài những kỷ niệm ra, chắc ông cũng không thể bỏ hàng rào Dâm bụt chỉ vì “Bụt là… lòng” phải không?
Nếu quả thật thế, thì tôi xin cảm ơn ông bạn, cảm ơn những con người có tấm lòng còn lại trong cuộc đời này!

TRẦN HỮU NGƯ

VĨNH BIỆT MINH KHOA



 


VĨNH BIỆT MINH KHOA


Bà Rịa ngày buồn giọt lệ sa

Bạn bè tiển biệt khóc Minh Khoa

Vần thơ nét chữ bao vương vấn

Tình cảm lời ca mấy đậm đà

Ôi ''Tiếng Quê Hương ''còn lắng đọng

Mà ''người  Quảng Trị '' đã lìa xa

''Bàn Tròn'' ''Thị Trấn '' buồn thương nhớ

''Chén rượu Hoà Long ''cũng nhạt nhoà


NHÃ MY 


Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

ĐỘ TANG CÀN -THƠ GIẢ ĐẢO ,ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIẼN NÔM





Góc Đường Thi :  

                           ĐỘ TANG CÀN :  Giả Đảo


                         


                                     Giả Đảo và bài thơ 


         Lại tiễn biệt, lại chia tay, nhưng không phải với người, cũng không phải với vật, mà là với ĐẤT...  Đất là Đất Nước nơi mà ta đang cư trú, là Quê Hương, nơi chôn nhau cắt rốn, Quê Hương thứ hai, thứ ba... Nơi đã bảo bọc ta trong cuộc sống lưu vong xa rời Quê Cha Đất Tổ...

          Xin kính mời tất cả cùng đọc và cùng dịch để thắm thía hơn nỗi niềm xa xứ với bài thơ sau đây :


              渡桑乾                             Độ Tang Càn

         客舍併州已十霜,        Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương,

         歸心日夜憶咸陽。        Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương.

         無端更渡桑乾水,        Vô đoan cánh độ Tang Càn Thủy,

         卻望并州是故鄉。        Khước vọng Tinh Châu thị cố hương !

                       賈 島                                                   Giả Đảo 

          


Chú Thích :

          1. Khách Xá 客舍 : là Ở nơi đất khách.   Xá : là chỗ trọ, là nhà ở.

          2. Thập Sương 十霜 : Mười mùa sương giáng. Mỗi năm chỉ có một mùa sương giáng. Thập sương là mười năm.

          3. Ức 憶 : là Nhớ. Hồi ức là Nhớ lại.

          4. Vô Đoan 無端 : là Khi khổng khi không. là Tình cờ , là chuyện đến mà không có dự tính trước, ta nói là Bỗng Dưng.

          5. Khước 卻; là Lại ,là Phó từ bổ nghĩa cho Động từ đi sau nó. Khước Vọng  卻望 : là Lại nhìn, lại ngắm.


Dịch nghĩa :    

                              Qua sông TANG CÀN.

              Ở trọ nơi đất khách là xứ Tinh Châu nầy đã mười năm nay, nhưng trong lòng ngày đêm luôn luôn nhớ về quê cũ là xứ Hàm Dương. Hôm nay, tình cờ lại phải đi qua sông Tang Càn để rời xa xứ Tinh Châu, thì lại cảm thấy quyến luyến nơi nầy, mặc dù thuyền đi đã xa rồi, nhưng vẫn còn trông ngóng về phía Tinh Châu như là trông ngóng về phía cố hương vậy !

 

Diễn nôm :

                      Tinh Châu đất khách mười năm trường,

                      Lòng vẫn nhớ về đất Hàm Dương.

                      Tang Càn nay lại sang sông nữa,

                      Trông ngóng Tinh Châu ngỡ cố hương !

         Lục bát :

                      Mười năm quán khách Tinh Châu,

                      Lòng quê thường vẫn nhớ sầu Hàm Dương.

                      Tang Càn qua bến vấn vương,

                      Rời Tinh Châu ngỡ Hàm Dương dạo nào !


       Xúc cảnh sinh tình, xin được cảm tác qua thực tế của cuộc sống định cư trên đất MỸ như sau :


                   Đất khách Ca-li mấy chục sương,

                   Việt Nam không lúc nhớ cùng thương !

                   Di cư nay lại qua Tết xát ( TAXAS ),

                   Rời đất Ca-li ngỡ cố hương !!!


          Đọc bài thơ trên đây, lại làm cho ta nhớ đến bài "題平陽郡汾橋邊柳樹 Đề Bình Dương Quận Phần Kiều Biên Liễu Thọ" của Sầm Tham như sau : 


               此地曾居住,      Thử địa tằng cư trú,

               今來宛似歸.      Kim lai uyển tự quy.

               可憐汾上柳,      Khả lân Phần thượng liễu,

               相見也依依!      Tương kiến dã y y!

                         岑參                        Sầm Tham

Có nghĩa :

                      Ngày xưa từng trọ nơi đây,

                   Giờ quay lại ngỡ nơi nầy cố nhân.

                     Thương thay bờ liễu sông Phần,

                   Gặp nhau quyến luyến như không nở rời !


                 


            Hẹn bài dịch tới !


                                                                                杜紹德

                                                                           ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

TRĂNG NON TRONG VƯỜN CŨ - THƠ NGUYỄN AN BINH




 

TRĂNG NON TRONG VƯỜN CŨ


Lạc trong vườn mơ cổ tích

Tôi về mùa đã sang ngang

Chân son thuở em mười sáu

Tóc thề vàng cả suối trăng.

Mỏng manh tình cong lá liễu

Sương hồ đâu đợi sớm mai

Trách chi con tim đắm đuối

Mưa đêm chìm giấc mộng dài.

Mười năm trôi trong khoảnh khắc

Tường loang lối đá rêu mòn

Sen trong vườn khuya thơm ngát

Nụ hồng cài mảnh trăng non.

Chim nâu hót lời giã biệt

Xa người nguyệt quế phai mau

Sâu ơi ngủ vùi trong kén

Mơ chi hóa bướm ngày sau.

Người xa áo mù sương lạnh

Hiên xưa còn đóa cúc vàng

Nỉ non côn trùng âm vọng

Hương thời gian sớm úa tàn.

Đêm nghe từ trong xa thẳm

Chia người nửa mảnh trăng non

Mắt hồ long lanh đáy nước

Thuở tình cánh mỏng vàng son.


NGUYỄN AN BÌNH


TÌNH SAY - NHẠC LÊ HỮU NGHĨA, LỜI NHÃ MY







TÌNH SAY
NHẠC LÊ HỮU NGHĨA
LỜI NHÃ MY
CA SỸ NGỌC QUY
SẢN XUẤT SONAR PRODUCTION


VĨNH BIỆT NHÀ THƠ LÊ THIÊN MINH KHOA






KHÓC MINH KHOA

Đọc dòng cáo phó khóc Minh Khoa
Thương nhớ khôn nguôi cứ vỡ oà
Bằng hữu đi về nơi chín suối
Lòng ta đổ lệ chốn dương tà
Nhân gian duyên nợ tình chan chứa
Vạn nẻo đường trần dạ xót xa
Người đã không còn trên cõi tạm
Buồn vương mọi lối khóc Minh Khoa

  PHANHO 28/3/2024 




VĨNH BIỆT MINH KHOA


Bà Rịa ngày buồn giọt lệ sa

Bạn bè tiển biệt khóc Minh Khoa

Vần thơ nét chữ bao vương vấn

Tình cảm lời ca mấy đậm đà

Ôi ''Tiếng Quê Hương ''còn lắng đọng

Mà ''người  Quảng Trị '' đã lìa xa

''Bàn Tròn'' ''Thị Trấn '' buồn thương nhớ

''Chén rượu Hoà Long ''cũng nhạt nhoà

NHÃ MY 

02/4/2024




NHỚ THI SĨ LÊ THIÊN MINH KHOA

Nét chữ còn đây người đã xa
Bài thơ phổ nhạc hoá tình ca
Núi Dinh vẫn đó bao trầm mặc
Rịa còn đây những ái hòa
Cái nghĩa thi nhân âu rất nặng
Câu tình nghiên bút quá bao la
Ve đang gọi hạ khơi niềm nhớ
Chén rượu tương tư giọt lệ nhoà.

HUY VỤ 18/05/24




ĐÔI DÒNG VIẾNG BẠN


Chút nghĩa tình còn đọng lại trong nhau
Thì ly biệt đâu phải là mãi mãi
“Nay Anh, mai Tôi”... Con đường ai tránh khỏi
Nhưng sao lòng vẫn nghẹn đắng, anh ơi...
Nhớ khi xưa Miền Đông đất gọi mời
Tôi vội vã hành trang vào lập nghiệp
Lần gặp anh trong niềm vui giao tiếp
“Thấm mệt đầu đời” ¹ ... Tôi khe khẽ diễn ngâm
Giọng trầm buồn anh đọc vội thơ anh
Kể câu chuyện “Em đi làm gái”
... “Thức bán đêm dài cho khách chơi
Cái điếm em thua điếm sự đời” (*)
Tháng năm qua theo dòng đời trôi nổi
Tôi và Anh biền biệt mỗi phương trời
Nhưng thơ anh vẫn đọng lại trong tôi
Những day dứt
Buồn vui
“nỗi trăn trở
niềm si mê
treo vào câu chữ “ (*)
Nay tiễn biệt sao lòng buồn vô hạn
Mượn lời thơ anh khóc bạn ngày xưa
Để khóc anh_ Thương tiếc mấy cho vừa
Để nhớ người_Bỏ bạn xưa đi mãi
Than ôi!
“Ba mươi năm trở lại
Bạn cũ đã mất rồi
Hạt muối cắn làm đôi
Hạt đường không chia được “ (*)
Anh yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng đầy ân phước...!

LNCT_04.2024
(¹) : Thơ Nguyễn Tất Nhiên
(*) : Thơ Lê Thiên Minh Khoa


SAO VỘI ĐI THẾ KHOA ƠI
Sao vội đi thế, Khoa ơi! Chúng mình còn hẹn với nhau nhiều cuộc cà phê, nhiều chầu rượu nữa Tội nghiệp bạn tôi, người đã quá mỏng mà râu tóc lại tốt Ngọn gió nào vô tình đã thổi bay một nhà giáo- một học giả- một nhà thơ Thương quá... Lê Thiên Minh Khoa ơi!... Biết bao giờ chúng mình còn ở chung phòng, chung giường với nhau nữa như những chuyến đi thực tế sáng tác tại Bình Thuận tại BRVT và mọi miền đất nước Đây Sông Dinh!... có phải vì nghẹn ngào tiễn người đi mà nước sông như ngừng chảy Nọ Nhà Tròn, rối loạn những cánh én, tiếng kêu buồn thê thiết Thôi nhé, bạn đi!... Quán cóc vỉa hè mai sau còn nhắc. Còn xưa mây thả lưng đồi Còn em mấy ấy độ thu rồi chưa bưa* Răng vội đi quá, Khoa ơi!. Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị* Xứ Mô Xoài*, nước vẫn hào phóng những con sông tìm ra biển. Thương quá, Khoa ơi!... Mai ngày qua ngang "Thị trấn tôi"* mình còn chỗ nào để ghé lại, để tá túc "Rượu Hòa Long ai đong nấy uống"* bao giờ còn gặp lại một đệ tử lưu linh Ô hay!... mùa xuân chưa cạn ngày, răng bạn lại rũ áo Mây vần vũ vẫn đâu đây, mùa hè chửa đến sao người thơ lại vội vã lên đường Còn bao nhiêu cuộc hẹn, bao dự định Sao vội đi thế, Khoa ơi!...
28-3-2024 BÙI NGỌC PHÚC
CHÚ THÍCH: * Thị trấn tôi: tên một tập thơ của LTMK * "Còn xưa.. chưa bưa": thơ LTMK * "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị": thơ Tế Hanh * Rượu Hòa Long ai đong nấy uống: phương ngữ.