CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2024

PHƯỢNG XƯA - THƠ NHẬT QUANG




 
PHƯỢNG XƯA

Tìm trong lưu luyến hạ ơi!
Tay nâng cánh phượng một thời tuổi hoa
Đâu rồi ngày tháng đã qua
Còn trong ký ức...nhạt nhòa buồn vui

Gió lay cánh phượng nghiêng rơi
Theo vầng mây trắng êm trôi bềnh bồng
Thương sao những cánh phượng hồng
Ép trang vở mới thơm nồng vấn vương

Chiều nay trở lại con đường
Bạn bè hai buổi đến trường năm xưa
Vẫn chùm phượng nở nắng, mưa
Màu hoa đỏ thắm đong đưa lối về

Ai thả cánh phượng sông quê
Lênh đênh trôi mãi, biết về nơi đâu?
Dẫu đời vạn nẻo mai sau
Hạ ơi! Ươm nhánh phượng màu đừng phai.



NHẬT QUANG


GIỌT BUỒN KHÔNG TÊN | PHÚC DUY | OFFICIAL MUSIC VIDEO








Thứ Năm, 18 tháng 7, 2024

CHIẾC CHIẾU VÀ NHỮNG PHẬN ĐỜI - TRẦN HỮU NGƯ




 

CHIẾC CHIẾU VÀ NHỮNG PHẬN ĐỜI!

Đời sống của người Việt Nam trải qua bao thế kỷ, thăng trầm theo thời cuộc, dù cho vật đổi sao dời, nhưng cuộc sống hàng ngày vẫn gắn liền với chiếc chiếu.
Chiếc chiếu, gia đình nào cũng có, cho dù giàu nghèo hay sang hèn, dù ở thành thị hay thôn quê, chiếc chiếu như một vật bất ly thân. Nhưng ngày nay vì đời sống mỗi ngày cao hơn, nên ở thành thị người ta không còn dùng chiếu nữa, mà ngã lưng trên tấm nệm êm ái! Chỉ có những gia đình ven đô, hoặc gia đình nghèo chen chúc trong con hẻm chật chội, hoặc những vùng nông thôn nào còn nghèo mới dùng chiếu trải trên chiếc giường tre, bộ ván, nền nhà để nằm… Và cũng vì chỗ sang hèn đó, nên cuộc đời này chiếc chiếu bị hàm oan khi người đời phân biệt “chiếu trên, chiếu dưới”.
Nhớ lại những năm chiến tranh rày đây mai đó, bỏ nhà, có thể bỏ lại tất cả, nhưng chiếu thì phải mang theo, để đắp hoặc trải nằm, cũng có gia đình dùng thêm tấm đệm. Chiếu và đệm như hai anh em, nhưng cách đan khác nhau. Cọng chiếu thì tròn, cọng đệm thì dẹp, và cách dùng cũng khác nhau: Chiếu dùng để trải, đệm dùng để lót. Lót ở đây thường dùng cho đồ vật, có đôi khi lót đệm để ngồi. Chiếc chiếu thì thông dụng hơn, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh người ta dùng đệm làm nóp (may kín ba bên, chừa một bên để chui vào). “Nóp với giáo mang trên vai nhưng thân trai nào kém oai hùng” (Nhạc phẩm Nam bộ kháng chiến của Tạ Thanh Sơn).
Chiếc chiếu ngày xưa gắn liền với đời sống con người, có đôi khi ăn ngủ trên chiếu. Nhà giàu thì chiếu đôi, chiếu hoa, nghèo thì chiếu đơn, chiếu chiếc, là loại chiếu chỉ có một màu, mỏng hơn chiếu hoa… Chiếc chiếu có mặt trên từng cây số, có khi còn dùng cho người qua đời! Và ngày nay, ở miền Tây, người ta còn đan chiếu để… xuất khẩu. Rất may, chiếc chiếu Việt Nam đã có mặt một vài nước trên thế giới.
Những tháng năm xa xưa, lúc còn chiến tranh, nghe người bán chiếu rao đầu ngõ, tôi thèm vì nhà quá nghèo, ước có được chiếc chiếu mới vì những chiếc chiếu trong nhà dùng lâu bị rách phải lấy vải vá. Vá quần, vá áo đã đành, nhưng vá chiếu thì bây giờ nhớ lại như một chuyện cổ tích mà thời ấy tìm một miếng vải để vá đâu có dễ?
Những gia đình thuộc “cường hào”, hương tổng, lý trưởng, bá hộ… thường có những đôi chiếu hoa dành riêng trải xuống thềm nhà, hay trên bộ ván ngựa “dùng lâu lên nước”, mời khách ngồi trong những giỗ chạp tiệc tùng. Chiếc chiếu ở thôn quê vào thế kỷ 20 là một vật dùng thân yêu, gắn liền với số phận con người, có khi đắp chiếu đến cuối đời!
Và ngày nay chiếc chiếu còn được dùng đến để trải trước bàn thờ tụng kinh, quỳ lạy người qua đời, mong rằng đừng ai quên chiếc chiếu, dù vắng mặt trong đời sống đô thị giàu sang, nhưng chiếc chiếu rất có tình, có nghĩa, bên nhau khi con người từ giã cõi đời!
Sống ở thành phố với những chỗ nằm tiện nghi chăn nệm êm ấm, thỉnh thoảng, tôi nghe thấy người đàn ông gánh chiếu bán dạo cất giọng lúc gần, lúc xa, tiếng rao như một tiếng lòng, lạc lõng giữa phồn hoa đô hội mà trong mỗi tiếng rao ấy hình như có một nỗi buồn xa vắng mênh mông:
-Chiếu… đây. Ai mua chiếu… không?
Tôi bỗng nhớ “Tình anh bán chiếu”, sáu câu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu sáng tác vào năm 1959, và được giọng ca mùi Út-Trà-Ôn ca, thời dĩa đá, đường kính 11,5 cm chứa được khoảng 60 phút âm thanh stereo, máy hát được quay “lên dây thiều”. Thời đó mà nghe Minh Chí, Út-Trà-Ôn ca 6 câu vọng cổ là muốn dừng cuốc, ngưng tay, bỏ làm, bỏ ăn mà nghe… Vọng cổ một thời lên ngôi vua cho đến khi tân nhạc Boléro ra đời! Bây giờ, nếu có dịp nghe lại, như một kỷ niệm buồn nhớ xa xôi. Hãy nghe Út-Trà-Ôn trong “Tình anh bán chiếu”:
-Nói lối :
“… Hò ơi… chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm/ Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu/ Chiếu này tôi chẳng bán đâu/ Tìm cô không gặp/ Tôi gối đầu mỗi đêm !...”
-Rồi vào vọng cổ :
“… Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã bảy
Sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra… chào! Cửa vườn cô khóa kín tự… hôm nào…”
Đây là một tình khúc tương tư của anh chàng bán chiếu với cô gái ở miền tây sông nước, anh chàng bán chiếu quen cô gái trên đường đi bán chiếu dạo, và năm trước gặp nhau, cô đã đặt anh một đôi chiếu bông :
“… Tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy/ Chiếc áo nhuộn bùn đã lấm tấm giọt mồ hôi/ Nhà của cô sau trước vắng tanh trong gió chiều đông/ Bỗng có ai dạo lên tiếng nguyệt cầm, như gieo vào lòng tôi thê thảm/ Cô đặt đôi chiếu bông bề dài hai thước, có lẽ để điểm tô ở chốn… loan phòng/ Hôm nay cô đã quên tôi để cất bước theo… chồng/ Cô ơi đôi chiếu bông này tôi tự tay dệt lấy/ Tôi đã lựa từng cọng lát sợi gai/ Nhưng khi tôi đến nơi thì cô đã rời quê nhà sang qua xứ khác/ Tôi đứng trước cổng vườn xưa buồn man mác/ Còn đôi chiều này tôi biết tặng cho ai/… Nhớ năm ngoái khi ghe tới vàm sông ngã bảy, cô đã tươi cười dẫn tôi đến tận nhà cô/ Cô đưa tôi vào chốn phòng riêng để đo ni chiếc giường gõ đỏ và cô đặt làm đôi chiếu/ Cô hỏi qua giá cả, tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen/ Năm hôm sau khi tôi sắp sửa lui ghe, cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng/ Sau khi cô đà lui gót, chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre/ Cô có biết đâu tôi đã lấy nón lá che ngang, để che giấu đôi dòng nước mắt/ Vì không muốn bàng quan thiên hạ họ cười tôi là một kẻ si tinh/… Khi hỏi lại xóm giềng tôi mới biết cô theo chồng đã được bốn trăng qua/ Mình dám đâu sai hẹn với người ta, mà họ đành đoạn bỏ nhà đi xứ khác/ Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không… hồn/ Nước mắt tuôn rơi theo lá rụng bên đường/ Gió đông vụt vù thổi mạnh, lạnh đất trời lạnh cả tâm can/… người ta đã có đôi rồi, chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung/… Tôi nhổ sào cho ghe chiếu trôi xuôi/ Lòng nặng trĩu một nỗi sầu tê tái/ Tôi ngồi yên sau lái mắt vẫn hướng nhìn nơi nẻo cũ vườn xưa/ Hỡi ơi con sông Phụng Hiệp nó chãy ra ngã bảy mà sao lệ của tôi nó cũng lai láng… muôn dòng/ Có ai hiểu được tấm lòng của tôi với cô gái mỹ miều trên kinh ngã bảy/… Sông sâu bên lở bên bồi/ Tình anh bán chiếu trọn đời… không phai…” (Tình anh bán chiếu).
Dù nghèo, nhưng anh bán chiếu rất hào phóng, pha một chút lãng mạn giang hồ lãng tử, chiếu không bán mà chỉ để tặng cô để làm quen như ngõ lời tình yêu của thuở ban đầu!
Đệ nhứt danh ca Út-Trà-Ôn với sáu câu vọng cổ “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu mùi mẫm đã một thời làm người nghe thương cảm anh chàng bán chiếu lụy tình và cũng từ đó, “Tình anh bán chiếu” đã đưa chiếc chiếu đi vào thơ ca. Và dù trải qua bao năm tháng, nhưng người đời khó mà quên được bài ca sáu câu vọng cổ này.
Ngày xưa ở một làng quê, tôi mê sáu câu vọng cổ và tôi suýt đi theo gánh hát mỗi khi gánh hát về làng!

TRẦN HỮU NGƯ

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2024

CANH CHUA NHỚ VỊ RAU TẦN - TỪ KẾ TƯỜNG




 

CANH CHUA NHỚ VỊ RAU TẦN


Ở thôn quê, hầu như nhà nào cũng có trồng Rau Tần, nếu không trồng chung với các loại rau khác để làm gia vị chế biến những món ăn, đặc biệt là nêm canh chua thì Rau Tần cũng được trồng riêng trong chậu lớn, đặt ở nơi thuận tiện để dể chăm sóc, tưới nước, vô phân. Rau Tần không kén đất, dễ trồng, cứ chiết từ bụi ra một nhánh có rễ căm xuống đất, tưới nước, chỉ thời gian ngắn sau nhánh Rau Tần này phát triển thành bụi, rồi cứ thế nhân giống lên, chẳng bao lâu sẽ có những chậu Rau Tần để ngắt ngọn, lấy lá nêm canh chua. Nồi canh chua nấu với cá, bằng nguyên liệu gì mà nếu không nêm Rau Tần thì mất đi hương vị của bữa ăn dân dã thôn quê bất luận ngày mưa hay tháng nắng.
Ngày nhỏ mỗi lần nấu canh chua, trước khi nhắc nồi canh chua xuống khỏi bếp má tôi thường sai tôi ra vườn rau sau nhà hái một ít lá Rau Tần vào rửa sạch, xắt nhỏ để bỏ vào nồi canh chua cho thơm. Bất cứ nồi canh chua nấu với nguyên liệu gì: cá, cua, lươn... nếu được “nêm" với lá Rau Tần, mùi thơm sẽ dậy lên, rất đặc trưng, làm cho hương vị canh chua ngon hơn. Dường như Rau Tần là loại gia vị trời sinh ra để tăng hương vị cho nồi canh chua thế gian, thiếu mùi Rau Tần, canh chua sẽ không còn là canh chua làm đậm đà thêm cho bữa cơm đạm bạc quê nhà.
Nhưng rau tần (còn gọi là Tần dày lá hay Húng Chanh) không chỉ để "nêm" canh chua, mà còn là một vị thuốc trị ho, đau họng rất thần sầu. Lúc nhỏ tôi mải chơi ngoài nắng, dầm suốt cơn mưa ngoài đồng, ngoài rẫy bị cảm ho, đau họng, má tôi cũng hái lá Rau Tần rửa sạch, bắt tôi nhai với một chút muối ăn, ngậm một lúc nuốt luôn. Thật kỳ diệu, cảm ho, đau họng mấy cũng hết mà khỏi uống thuốc. Vì thế Rau Tần là loại rau quê, được trồng riêng trong chậu đặt ở góc hè, hoặc trong vườn rau của hầu hết người nhà quê không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Rau Tần có mặt ở khắp mọi nơi, tới tận góc vườn nha mọi người.
Rau Tần là một loại cây bụi, thân thấp, nhiều lá xanh đậm hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, mặt lá dày, nhám, giòn, dễ gãy hương thơm ngai ngái, vị cay nồng. Tôi biết Rau Tần từ câu hát ru em của má tôi ngày còn trẻ, hoặc của một bà mẹ trẻ hát ru con bên hàng xóm vào những buổi giữa trưa, hoặc lúc xế chiều, giọng hát ru con trên võng thấm đậm tình quê, man mác nỗi buồn của thiếu phụ, hòa theo tiếng võng đưa kẽo kẹt và tiếng gió thổi ngoài bờ tre thành niềm trắc ẩn không của riêng ai. Câu hát ru em tôi nghe từ lúc nhỏ, có lẽ xuất phát từ câu hò đối đáp giữa trai gái trong lúc cắt lúa, đập bồ trong mùa vụ, hay khi làm cỏ mạ, cỏ ruộng khi lúa trổ đòng đòng. Nhưng khi trở thành cậu hát ru em của người chị, bà mẹ quê nghèo bên cánh võng trưa thì thâm thuý, ngọt ngào vô cùng
“Anh về để áo lại đây
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
Gió lạnh lùng lấy mùng em đắp
Để áo anh về đi học đường xa
Đường xa xe lửa chạy cũng gần
Muốn ăn rau é rau tần
Muốn về xứ sở cho gần bên em?”
Nhưng ngày xưa là vậy. Bây giờ thì sao? Ở những chợ thị thành, ngay cả Sài Gòn tôi cũng không thấy ai bán Rau Tần là chuyện bình thường. Ngay chợ quê bây giờ, tìm mua các loại rau, rau gì cũng có, nhưng Rau Tần thì không. Chẳng nói gì ngoài chợ, ở vườn nhà người quê tôi bây giờ hầu như cũng không ai trồng Rau Tần. Rau Tần gần như đã mất giống. Điều này chứng tỏ Rau Tần đã không còn chỗ đứng trong bữa cơm gia đình có nồi canh chua cá nữa. Người ta vẫn nấu canh chua nhưng nêm nếm đã có các loại rau khác như: Ngò Gai, Húng Quế, Ngò Ôm…
Thật tiếc cho một loại rau mà không phải rau vì nó không được xếp vào loại rau ăn sống, chỉ vài lá để "nêm" canh chua hoặc chữa ho cho người lớn, trẻ con. Nhưng Rau Tần đã đi vào ca dao và kỷ niệm của tôi từ thời thơ ấu. Chính vì thế nên khi ám tôi mất, tôi về ở quê thường xuyên hơn để chăm sóc nhà cửa, vườn tược tôi đã cố gắng hỏi thăm xem nhà ai còn trồng Rau Tần để xin giống về trồng trong vườn rau nhỏ tôi đã khoanh vùng ở quê nhà. Mùa mưa, trồng rau rất hợp với thời tiết và bỗng dưng tôi rất nhớ... Rau Tần. Nhớ cả mùi thơm ngai ngái và vị cay nồng của nó. Giống như tình yêu rất sâu đậm của đời người, vì người yêu có thể mất đi ví bất cứ lý do nào đó nhưng hương vị tình yêu vẫn còn. Rau Tần là thế.
Tuy gọi là Rau Tần nhưng Rau Tần không phải là một loại rau ăn sống, luộc, nấu canh, xào… mà chỉ là một loại rau gia vị để nêm độc nhất vào món canh chua trước khi nhắc nồi canh chua xuống khỏi bếp. Cách nêm Rau Tần cho nồi canh chua thơm, dậy múi đặc trưng cũng không đơn giản cứ ngắt lá Rau Tần bỏ đại vào nồi canh chua là xong mà phải xắt nhuyễn rồi mới nêm, nêm cũng không để quá lâu mà nhắc nồi canh chua xuống ngay.
Rau Tần dễ trồng, cứ ngắt ngang một cành già rồi cắm xuống đất có ít phân chuồng, trấu, tưới ẩm vài ngày cái cành này sẽ ra rễ bám đất và phát triển mầm lá mới, mọc thêm nhánh mới, phát triển thành bụi . Tuy vậy, nếu vài cơn nắng nóng mà quên tưới Rau Tần cũng dễ bị chết khô. Phía sau nhà tôi đang có mấy bụi Rau Tần xanh tốt tôi trồng trong thùng sốp chỉ canh để tưới thôi chứ không sợ lũ ốc sên ăn lá non vì ốc sên kỵ lá Rau Tần, có lẽ do vị cay của nó nên ốc sên không dám đụng tới.


TỪ KẾ TƯỜNG

KHÚC RU MỘT MÌNH - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI






KHÚC RU MỘT MÌNH

Một mình ngồi hát khúc ru tôi
Nghe như từng giọt rớt mây trôi
Tôi ru tôi nán lại cuộc đời
Tôi ru tôi buổi sáng mây trôi
Nhìn mặt trời soi bên khung cửa
Ly cà phê không sữa đắng môi
Tôi ru tôi đêm dài khó ngủ
Nằm trở mình không có một ai
Tôi ru tôi ru hoài ước vọng
Tôi ru tôi ngày tháng còn say
Bởi cuộc đời đeo mang tình ái
Nên ru hoài giấc mộng thần tiên
Cám ơn em giọt tình nồng ấm
Rớt vào hồn nổi nhớ ru êm
Ru đời anh cuộc đời xế bóng
Như lá vàng sắp rụng ngoài hiên
Mà trong lòng đôi khi bối rối
Bởi yêu em chưa trọn ước nguyền
Mà thời gian cứ hoài thúc hối
Anh nguyện cầu sớm đẹp lương duyên..


HUỲNH TÂM HOÀI


Thứ Hai, 15 tháng 7, 2024

CHÔN HAY HOẢ THIÊU - PHIẾM LUẬN CỦA ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



 

TẠP GHI và PHIẾM LUẬN : CHÔN HAY HOẢ THIÊU ?


Gởi các bạn già,

       Mọi người gọi tôi là thầy Đồ, gọi thế có nghĩa là biết tôi biết chút đỉnh chữ Nho và am tường đôi chút về Âm dương Ngũ hành Bát quái.... vì nó có trong Kinh Dịch để giải thích về vũ trụ quan của người xưa. Tôi cũng biết ít nhiều về kinh Phật qua văn chương và qua cuộc sống thực tế nông thôn Việt Nam, nơi mà tôi lớn lên từ nhỏ. Tôi cũng thuộc it nhiều kinh Phật vì tôi học chữ Nho với một ông Thầy Chùa ở quê tôi. Nhưng ...
       Tôi chỉ say mê nghiền ngẫm về Âm dương Ngũ hành như là một cách lý giải về những vật chất chung quanh ta,như Ban ngày là là Dương, Ban đêm là Âm, mặt trời là Dương, mặt trăng là Âm, đàn ông là Dương, đàn bà là Âm.... và vật chất quanh ta là do Ngũ Hành : Kim , Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ mà thành, và Ngũ Hành cũng ứng với Ngũ Tạng là Tâm, Can, Tì, Phế, Thận.... Cũng như tôi rất tâm đắc về luật Nhân Qủa của nhà Phật, như câu kệ :
      " Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ gỉa thị. Dục tri lai thế qủa, kim sinh tác gỉa thị 欲知前世因,今生受者是. 欲知来世果,今生作者是 ". Có nghĩa : "Muốn biết cái Nhân của kiếp trước, thì hãy xem sự thụ hưởng của kiếp nầy ( Ví dụ : Kiếp trước ăn ở nhân đức, nên kiếp nầy được giàu sang vinh hiển). Còn Muốn biết cái Qủa của kiếp sau, thì hãy xem việc mà ta đang làm ở kiếp nầy ( Ví dụ : Kiếp nầy ta ỷ giàu hiếp đáp người nghèo khó, thì kiếp sau sẽ là ăn mày...).
       NHÂN 因 là Cái hạt giống, QỦA 果 là Cái Trái do hạt giống đó sinh ra. Nên ta nói " Gieo nhân nào thì gặt qủa nấy ". Phật giáo và Nho giáo gặp nhau ở điểm nầy. Hồi nhỏ đọc Minh Tâm Bửu Giám thấy có câu :
            Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu.   種豆得豆,種瓜得瓜。
            Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu          天網恢恢,疏而不漏 !    
Có nghĩa :
          Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu.
          Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt !.

   Tôi mê những văn thơ có liên quan đến Phật giáo, như :

               Phù thế còn nhiều duyên nghiệp qúa,
               Lệ lòng mong cạn chốn am không.
               Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,
               Quên hết người quen chốn bụi hồng !
                                                    Jean. Leiba.
  hay như trong Kiều :
                    Cho hay giọt nước cành dương,
               Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
             .........................................

                      Sự đời đã tắt lửa lòng,
               Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

        Tôi chỉ thích và kính trọng những ông Thầy Chùa gầy gò khổ hạnh giỏi chữ Nho ở thôn quê, nơi tôi ở hồi nhỏ, và ....
        Tôi ghét cay ghét đắng những ông thầy chùa mập mạp, phốp pháp, lên xuống xe hơi... ở thành phố; mấy ông Thích Đô La nầy hễ mở miệng ra là phải cúng dường... cúng chiếu đủ thứ ! và ...
        Tôi rất ghét những nghi thức mà họ cúng bái vong linh người chết, kinh của họ đọc, ngoại trừ những câu tiếng Phạn như : "Nam  mô tô rô bà ra, đát tha nga đa da, đát điệt tha, án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha..." không biết là nghĩa gì ?! và cũng không biết là họ đọc có đúng không ?! Họ đọc tầm bậy cũng chẳng ai biết gì !!! Thế thì ĐỌC ĐỂ LÀM CHI ???!!!
         Còn những câu chữ Nho, thì vài ông thầy chùa lớn tuổi còn đọc đúng, chớ các ông tre trẻ thì đọc... tùm lum tà la hết trọi ! Như câu : " Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt, Phu thê nghĩa trọng DÃ phân ly 父母恩深終須別 夫妻有義也分離 " thì họ đọc thành " DẠ phân ly 夜分離 " nghe kỳ cục hết sức ! Vì câu trên có nghĩa :

        " Cha mẹ đối với ta có ơn sâu, nhưng rốt cuộc cũng phải tử biệt. Vợ chồng nghĩa nặng, nhưng cuối cùng CŨNG phải phân ly."
      DÃ PHÂN LY 也分離 là " Cũng phải chia ly ". Họ đọc thành DẠ PHÂN LY 夜分離 là " Ban đêm mới phân ly ", làm thể như ban ngày họ còn ngủ chung với nhau được vậy !

       Nhưng dù đúng dù sai, thì cũng chỉ là những lời nói sáo, như : " Bạch ngọc giai tiền văn diệu pháp, huỳnh kim điện thượng lễ Như Lai 白玉階前聞妙法,黃金殿上禮如來 ( Trước thềm ngọc trắng nghe đạo pháp huyền diệu, Trên điện vàng ròng lễ bái đức Như Lai ). Chúc thực kiền thành, chư tang quyến thành tâm hiến dâng phạn cúng 祝食乾誠,諸喪眷誠心獻奉飯供".(Chúc... mời ăn một cách thành khẩn, các người trong tang quyến tất thành tâm mà hiến dâng cơm cúng nầy lên).

 

        Nghi thức cúng vong linh, nhưng đâu có vong linh nào biết ăn biết nghe, người sống nghe cũng điếc con ráy luôn, mời "ăn cơm" mà nói "dâng phạn"!. Khi sống thì không có tu hành gì cả, chùa cũng không có đi, nhưng khi chết rồi lại phải quy y, có Pháp Danh hẵn hoi. Thiệt tức cười hết sức ! Người chết thì cũng đã chết rồi, còn làm cho tốn kém mà chi ? Tiền Nhà Quàn, tiền Thầy cúng, tiền tẩn liệm, tiền hoa quả nhang đèn, vòng hoa các cái.... trên một chục ngàn đô. Nhưng sau đám tang bỏ hết ngoài mả cho chuột tha. Có người còn "cắc cớ" làm khổ con cháu bằng những lời trăn trối hết sức "Cà Chớn" :" Khi tao chết, tao muốn về Việt Nam để nằm gần mồ mả ông bà cho ấm cúng !". Nói một câu nhẹ nhàng, con cái tốn ba bốn chục ngàn đô như chơi, chưa kể đứa có ý kiến nầy, đứa ý kiến khác, đứa có khả năng, đứa hổng có dư tiền, cải nhau ỏm tỏi, rồi đâm ra giận hờn nhau không thèm nhìn mặt nhau luôn sau khi cha mẹ đã chết. Thế mới khổ chứ !!!....

       Nên, tôi dặn con cái tôi trước rằng, khi ba chết, các con làm thủ tục chuyển từ nhà xác sang nhà quàn xong thì ngày hôm sau cho hỏa thiêu liền, khỏi phải quàn lại làm lễ cúng bái gì cả, làm rùm beng nằm đó chỉ bực mình thêm thôi, chết mà không được yên thân đó. Thiêu xong thì... bỏ luôn đi, đừng có hốt tro cốt gì cả, để ở nhà thì ô nhiễm trong nhà, tội nghiệp con cháu, rải xuống biển thì ô nhiễm biển, tội nghiệp cá tôm. Còn để ở trong chùa thì phải nghe mấy ông thầy chùa đọc kinh tầm bậy tầm bạ càng bực mình hơn, mà lại phải tốn tiền nữa, thôi thì bỏ phức cho rồi ! Khỏi phải thờ phượng gì cả, ở Mỹ nầy nhà cửa bít bùng, có đốt nhang được đâu mà thờ phượng ! Các con có nhớ ba thì treo một tấm hình ở phòng khách hay ở đâu đó cũng được. Đến ngày giỗ ba thì cứ nấu một mâm cơm rồi anh em xúm lại ăn uống họp mặt cho vui, đó cũng là cái cớ để anh em có dịp họp mặt nhau cho thân mật; cũng có thể mời thêm vài người bạn của ba tới dự cho vui cũng được. Ở Mỹ nầy, ba có được mấy người bạn đâu, và có được mấy người rảnh rổi để đi điếu mình đâu, làm đám ma đám tang làm chi cho tốn kém vô ích ! Mua đất mua cát, xây mồ xây mả tốn kém đâu phải ít, nhưng sau đó con cháu chưa chắc có thời gian và có nhớ, có rảnh để hằng năm phải đi cúng mả không ?! Chỉ tạo thêm phiền phức cho con cháu sau nầy mà thôi ! Nên ba chối rất thật tình, rất thực tế, không có lẫy hờn gì cả !

     Quý bạn già thân mến,

          Tại quý bạn gợi ý, nên tôi sẵn đà tâm sự cho vui, mong là không làm phiền và mất thời giờ của Quý Vị !

                                                   Thân mến,
                                                  ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                                                          2016


Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2024