CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

GIAO TIẾP KHÔNG LỜI



 PHIẾM LUẬN**Bài đăng trong blog cũ yahoo360plus Sep 09 -2011

    Có hai phương cách để thực hiện sự giao tiếp của con người .Thông thường là truyền thông bằng lời nói (verbal) và một phương cách nữa là diễn đạt không có lời (nonverbal) Không lời nói ở đây không phải để chỉ những người bị khuyết tật không nói được mà là một cách giao tiếp của những người bình thường với nhau không thông qua ngôn ngữ nhưng bằng những cách biểu hiện khác mà theo các nhà chuyên môn ( nghiên cứu tâm lý,xã hội, ngôn ngữ ) gọi là ngoại ngôn ngữ (extra  language) gồm ngôn ngữ  vật thể như quần áo ,trang điểm, ngôn ngữ thân thể (body language) tiếp xúc bẳng tay , cử chỉ điệu bộ , biểu thị bằng mặt ,ánh mắt ,nụ cười.Không lời cũng còn là nghi thức xã giao lịch sự (chào hỏi) mà mỗi dân tộc ,mỗi nền văn minh có cách biễu thị khác nhau.Chẳng hạn như người Tây phương bắt tay khi chào hỏi,ôm hôn lúc gặp nhau hay giả từ ,người Lào ,Thái Lan chấp tay cúi đầu,người Nhật gặp mình để chào và tỏ sự kính trọng,người VN gật đầu chào khi gặp người lớn ,giơ tay chào khi gặp bạn cùng lứa, nháy mắt, huých sáo khi ghẹo người đẹp …ở đằng xa , học trò lễ phép khoanh tay cuối đầu, chắp tay thi lễ khi đến chùa… Ở đây SL tôi không dám lạm bàn, phê bình những nghi thức xã giao không lời  chỉ là nói tầm phào( phiếm luận)   về những trường hợp không dùng (hoặc không nên) lời trong sinh hoạt thường ngày thôi,mong là đọc chỉ để mua vui.
    Ai cũng biết khi giao tiếp muốn thành công và dễ dàng nhứt là phải …nói. Lời nói là kết quả của sự suy nghĩ (lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau) ,là cách diễn đạt (lý lẻ và tình cảm ),ứng xử  (có văn hóa) của con người  trưởng thành (người khôn lời nói dịu dàng dễ nghe).Thú vật không thể có lời nói nhưng cũng có thể biểu thị được chẳng hạn như chó vẫy đuôi chồm lên liếm ,chim vỗ cánh ,khỉ …khẹc khẹc….Con người khi chưa biết nói cũng đã có cách diễn đạt …không lời.Trẻ con dùng tiếng khóc với những cung bậc khác nhau để biểu đạt lúc đói,giận ,vòi vĩnh…và dùng nụ cười để để chào ,mừng khi thấy người quen(ông bà cha mẹ anh chi) hay khi được thỏa mãn những đòi hỏi (được cho bú, nựng nịu, cho đồ chơi ) đều là những cách biểu thị sơ khai khi chưa nói được . Nhưng con người lúc đã trưởng thành vẫn có lúc phải chọn cách biểu thị không lời.Không lời còn là cách để bổ sung sự thuyết phục hay hiệu quả của lời nói .(trường hợp những khoảng im lặng , nhấn mạnh ,gằng giọng,khóc, cười,…trong lúc đang nói chuyện ) Cũng là cách bộc lộ những cảm xúc khi tiếp xúc bằng ánh mắt ( liếc mắt,nháy mắt, nhắm mắt ,trợn mắt, gườm ,háy ,nguých..) nụ cười (méo xệt, miễn cưỡng, vui vẻ, thoải mái, e lệ, mỉa mai ,nham nhỡ,nham hiểm…) hoặc những cách diễn tả trên khuôn mặt (nhăn mặt ,nhíu mày ,chu mỏ, trề môi ,hí hởn,chằm dằm…) gật đầu ,lắc đầu , hay diễn tả bằng cử chỉ ,điệu bộ (nồng hậu , nhí nhảnh, lạnh lùng ,lãnh đạm,dững dưng,nịnh đầm,bối rối,dè dặt,lẹ làng,luống cuống …) nắm tay , siết tay... đều cốt ý để tạo nên sự giao cảm cần thiết. Lại có khi có những chuyện mà người …lịch sự hoặc hèn nhát không thể  “chọi nhau’’ bằng lời được  nên đành phải im lặng.(bị xếp vô cớ giận cá chém thớt,bị ai đó ỷ nhớn ăn hiếp…)rồi sau đó để cho đỡ tức bèn tự đấm vào ngực mình hay…đập đầu vô gối ngũ cho quên!Cũng có lúc oan như Thị Kính mà phải làm thinh cho yên nhà yên cửa.Rồi trong những cuộc “ chiến tranh miệng” giữa hai phe (khi đã li dị) hoặc giữa các phe thích đấu khẩu với nhau mà ta tình cờ hay bắt buộc phải chứng kiến thì lời nói lúc đó cũng giống như đổ dầu thêm vào lửa nên đành im lặng là vàng (vàng đang leo thang chót vót) vậy .Lại có trường hợp chẳng đặng đừng thí dụ như khi quí ông ra đường cùng lúc có nội tướng đi kèm lỡ như gặp phải người đẹp ăn mặc sexy quá thì sao .Khen (đẹp) không dám (chắc rồi) chê (xấu) không đành (vì không đúng sự thật) đành phải (lén lén) giương con mắt ngó mà mơ thôi! Rồi còn cái cảnh không cần nói mà chỉ có chén bay dĩa bay thường xuyên xãy ra ở trong nhà các quan ông quan bà Thúc Sinh Hoạn Thư nữa!Tính ra thì giao tiếp không lời vẫn hay và gọn hơn nhiều (nhưng tốn tiền vì qua cơn thịnh nộ lại phải mua đồ dùng mới hay phải đi khám bác sĩ vì chịu đựng im lặng lâu ngày quá sẽ bị bịnh trầm cảm!) Không lời còn có khi để biểu thị quyền lực .Đứa trẻ quậy phá khi nhà có khách chỉ cần ba mẹ quắc mắt nhìn là nó hiểu ,sợ và ngoan ngoản ngay. “Gia trưởng” mà ít nói thì thường là người nghiêm khắc .Và khi   “cái loa’’ ở nhà bỗng dưng ngừng nói thì nên coi chừng sắp ra lịnh tối hậu không cho biện hộ (  rã hùn !)Sự im lặng cũng còn là một khoảng không bí hiểm Bằng lòng ,khen ,chê ,không ưa, yêu ,ghét, chuẩn bị trả thù đôi khi  đều bắt đầu bằng sự im lặng (chết người!) Trường hợp bỗng nhiên quá vui mừng có khi cũng bị ..nghẹn không thốt được nên lời( thi đậu, trúng số)Nhưng có trường hợp không nói ra cũng chưa chắc là hay vì không đạt được kết quả mong muốn .Chẳng hạn như  “sao anh không hỏi những ngày còn không’’ (hỏi đây là hỏi cưới cơ nhưng muốn chắc ăn thì cũng nên hỏi xem người ta có gật đầu e thẹn không đã) hay cứ “Để trong bụng đố ai mà biết ’’(Thơ Mường Mán) Mà kẻ nhạy mồm nhạy miệng quá thì  có lúc cũng không hay .Chẳng hạn như hai người bạn gái lâu ngày gặp nhau mà thấy bạn đẩy đà quá bèn vuột miệng hỏi   “Bồ có … mấy tháng rồi?”  trong khi người ta vẫn còn phòng không chiếc bóng thì dở khóc dỡ cười làm sao mà nói câu xin lỗi cho suông đây! Lại nữa có ai mà dám trả lời câu hỏi của người (quá già)…không đẹp (Coi em có đẹp không ?) đành bốn mắt nhìn nhau nói câu thông cảm vậy ! Hay trường hợp ông dẫn vợ bà dắt chồng mà tình cờ có gặp lại “ cố nhân ’’  thì cũng nên  “cứ xem như thể mình không hẹn thề” cho xong chuyện .! Ngôn ngữ …tay chân ( thường gọi đùa là động từ to quơ) còn được sử dụng triệt để trong khi …giao tiếp với người ngoại quốc nữa. Còn ngôn ngử vật thể (ăn diện ,kiểu tóc ,màu son …) thì thường được phụ nữ sử dụng trong nhiều trường hợp chẳng hạn như để thu hút tầm nhìn của kẻ khác ,tăng hiệu lực thành công cho lời nói , ca hát...,và cần thiết khi hẹn hò.(phải soi gương mấy lần cho chắc …đẹp!) hay trong các cuộc trình diễn tiếp xúc trước công chúng ,khi đi cùng với quý vị có địa vị ... (không cần nói chỉ đẹp và cười tươi là xong)  .Còn các ông dùng ngôn ngữ thái độ (cử chỉ) nhuần nhuyển hơn như  mở cửa xe cho người đẹp ,nhường chỗ ngồi , lăng xăng xách đồ , kéo ghế dơ tay mời…nhưng có điều (ai cũng nói) là bình tĩnh …mà run khi lần đầu tiên đi gặp ai kia trong cuộc hẹn hò! ( phụ nữ vốn tự tin hơn trong vụ này)   Đó là kể chuyện vui ,còn khi gặp chuyện buồn ? Khóc ( nước mắt chảy nghẹn ngào) là cách biểu thị thông thường nhứt khi đau khổ (bị chưởi mắng ,bị từ hôn) thở dài khi gặp chuyện khó xử ,ôm đầu khi suy nghĩ , đấm ngực ,vò đầu ,bức tóc khi gặp điều bực tức, dãy dụa khi cầu cứu,cắn xé cáo cấu khi gặp nguy hiểm hay tự  vệ …
    Nói tóm lại cuộc sống là một chuổi sinh hoạt vô cùng phong phú,ý nghĩa ,vui buồn ,thành công ,thất bại…và con người thì cũng có nhiều cách diễn đạt thành thạo và vô cùng ý nghĩa trong sự giao tiếp mà nhiều khi không cần phải thông qua lời nói!.



SL

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

LÀM THÂN CON GÁI

BÀI ĐĂNG TRONG BLOG YAHOO360plus Sep 19 2011



Kết quả hình ảnh cho ảnh phụ nữ ngày xưa


LÀM THÂN CON GÁI
                       (viết theo sách vở ngày xưa)


                 '' Thân em như tấm lụa đào.Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.''
  Lụa đào là lụa đẹp(và quí) vì ở cái thời phong kiến xa xưa kia chỉ có vải thô ,vải tám không màu thì lụa (mà lại là màu hồng đào) quả là món hàng xa xỉ và hiềm có.Thế nhưng lụa không được chưng bày trong những  “ cửa hàng” sang trọng để khách sang trọng quyền quí biết giá trị và có tiền vào chiêm ngưỡng  mua về mà tấm lụa kia chỉ là “phất phơ giữa chợ’’  để rồi không biết  “ lọt vào tay ai ’’ .Chợ đời muôn nẻo, nhân tình thế thái khó lường, thân gái “ mười hai bến nước” biết ai là người tốt để gởi tấm hồng nhan? Một lời thở than cho thân phận không có quyền làm chủ ,một lời xót xa và cam chịu để cho số phận bị đẩy đưa  không biết về đâu…
         Làm thân con gái ở xã hội phong kiến thời xưa giá trị chỉ là con số không “ nhứt nam viết hữu ,thập nữ viết vô”! Thế nhưng từ cái “ vô” (không có) rẻ rung tầm thường đó  người ta lại mặc nhiên “ quàng vào cổ” cho người phụ nữ không biết là bao nhiêu thứ “ có” bao nhiêu loại bổn phận nặng nề “tam tùng ,tứ đức’’ cùng với luân lý khắc nghiệt khác  “ trai năm thê bảy thiếp ,gái chính chuyên chỉ lấy một chống” . Cũng bởi dành quyền ưu tiên trong tình cảm hôn nhân cho nam giới  nên người phụ nữ phải chịu đựng biết bao thiệt thòi đau khổ của kiếp làm lẽ “ kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”.Và cũng vì cái quan niệm lỗi thời trọng nam khinh nữ mà người con gái phải chịu quá nhiều thiệt thòi đau khổ, phải hy sinh “ bán mình chuộc cha ’’ như Thúy Kiều hay tệ hơn bị ép duyên ,bị các tay cự phú ,cường quyền ác bá cưỡng bức làm vợ .Mà ngay cả những người con gái may mắn hơn được tấm chồng đàng hoàng tử tế thì cũng có sung sướng gì đâu “ ai ơi đừng lấy học trò dài lưng tốn vải ăn no lại nằm!” Lâm vào cái cảnh làm vợ kẻ sĩ thất thời như bà Tú Xương thử xem phải vất vả cỡ nào “ quanh năm buôn bán ở ven sông’’ (bán cái gì đây hở trời ?) Buôn bán nhỏ nhoi mà để có tiền  “ nuôi đủ năm con với một chồng” thì phải vô cùng vất vả “ lặn lội thân cò khi quảng vắng ,eo sèo mặt nước buổi đò đông ” ! Còn chị bình dân kia cũng có gì hơn “ bánh bò một vốn ba bốn đồng lời(?) khuyên anh ở nhà cứ việc ăn chơi để em buôn bán kiếm lời nuôi anh ’’(rõ chán !)
  Thương chồng lo cho chồng vẫn chưa đủ ,người phụ nữ còn “ lấy chồng gánh vác giang san nhà chồng”  Khi chồng vắng nhà thì bổn phận gấp đôi “ Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam.Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân ’’ Gặp phải người siêng năng, biết chung lưng đấu cật cùng nhau lo “thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn’’ “ chống cày vợ cấy con trâu đi bừa ’’ thì đời sống tương đối ấm no hạnh phúc. Hay phải người tài tử biết chút lảng mạn  thì công việc nhẹ nhàng đỡ hơn tí xíu “bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”. May mắn lắm được một số ít  trang anh tuấn tài hoa  biết chăm lo sách đèn đến lúc công thành danh toại không quên người vợ tào khang chung thủy “ngưạ anh đi trước võng nàng theo sau ’’ thì kể như người phụ nữ này vô cùng có phước!
Cũng bởi phải sống trong số phận đau lòng nên đôi lúc người con gái ao ước một hoàn cảnh tốt hơn dù hi vọng rất mỏng manh “ một ngày đứng tựa thuyền rồng còn hơn suốt kiếp ở trong thuyền chài’’ (chưa chắc đâu “ rồng” có đến vài ngàn cung phi mỹ nữ mà dù có làm hoàng hậu đi nữa thì có dám chắc rằng thoát được kiếp lảnh cung khi vua không còn sủng ái
nữa !( Thuyền rồng ngày xưa chỉ thuyền của vua chứ không phải thuyền có hình rồng như thuyền du lịch ngày nay!)
  Người phụ nữ đẹp thì lại càng gian truân hơn(mới kỳ) “ hồng nhan bạc mệnh” “ má hồng mạng bạc’’ “ tạo vật đố hồng nhan” !! Một nàng Kiều số kiếp truân chuyên, nàng Tiểu Thanh mạng bạc , nàng Cầm đắng cay(  Nguyễn Du) Cho là có là công chúa đi nữa thì như Huyền Trân cũng “ Tiếc thay hạt gạo trắng ngần .Đã vo nước đục lại gần lửa rơm” “ Tiếc thay cây quế giữa rừng Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo” hay công chúa Mỵ Châu “ Thề nguyền phu phụ .Lòng nhi nữ việc quân vương.Duyên nọ tình kia dở dở dang. ..”.(Tản Đà)  rồi hoàng hậu cũng có hơn gì “ Gió đưa cây Cải về trời .Rau Răm ở lại chịu lời đắng cay” ! Đương nhiên là cưng có “hồng nhan bạc triệu  ’’  làm cho quốc phá gia vong   ở trong sử sách …Tàu  nhưng xét cho cùng thì “khả năng của các nàng” chắc cũng chưa đến nổi nào nếu như mấy ông vua kia không có sự   ngu si mê  muội,bất tài vô dụng , chỉ biết đắm chìm trong sắc duc
  Phụ nữ cho dù là người đẹp hay người không đẹp chỉ là con người yếu đuối mỏng manh(thể chất lẫn tình cảm tâm hồn) “ liễu yếu đào tơ ” “ yểu điệu thục nữ’’ và cũng chẳng qua để cho  “quân tử hảo cầu”. Người con gái chừng như không có quyền tự lập,không có quyền tự quyết định tình cảm hôn nhân và cuộc sống lúc nào cũng phải “núp bóng tùng quân ’’ chờ đợi ở nhân duyên (mơ hồ) “Còn duyên kẻ đón người đưa.Hết duyên vắng ngắt như chùa bà Đanh(đi sớm về trưa một mình)’’.Có chồng may ra thì gặp người tốt còn không cũng chỉ biết than thân trách phận nuối tiếc cho một mối tình lở làng dang dở bởi người yêu quá nghèo không thể cưới hỏi theo lễ nghi phong kiến. “ Ba đồng một mớ trầu cay.Sao anh
không hỏi những ngày còn không.Bây giờ em đã có chồng .Như chim vào lồng như cá cắn câu.Cá cắn câu biết đâu mà gỡ.Chim vào lồng biết thuở nào ra”!(ngày xưa việc cưới xin rất rườm rà tốn kém) Rồi nhiều khi có chồng mà gặp cảnh chăn đơn gối chiếc vì chồng đi xa (đi lính hoặc đi buôn) “ Đêm khuya ra đứng bờ ao.Trông cá cá lặn trông sao sao mờ.Buồn trông con nhện giăng tơ.Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai… Đêm đêm tưởng giải ngân hà.Chuôi sao bắc đẩu đã ba năm tròn.Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn.Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ ’’(tào khê hay tào khang là tình nghĩa vợ chồng và đây là lời thở than của thiếu phụ chờ chồng suốt cả ba năm )
Người phũ nữ cho dù số phận có bị bạc đãi ,nhưng tình yêu vẫn một dạ thủy chung,cho dù nắng mưa dầu dãi nhan sắc có tàn phai theo năm tháng thời gian thì vẫn muốn làm đẹpkhông phải để mua vui cho bản thân mình mà để vừa lòng người yêu ,người chồng “Vì chàng tay chuốc chén vàng.Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng”! “vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai” !
       Người phụ nữ với sức mạnh của trái  tim,bằng cảm xúc và tình yêu thương đã không sống cho chính bản thân mình và cho tới khi đạt được quyền qui tối thượng dù có làm vua như hai bà Trưng thì vẫn thấy ngậm ngùi khi thiếu bóng lang quân.Xin mượn bốn câu thơ của nữ sĩ Ngân Giang để kết thúc bài này
                             Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
                             Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
                             Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
                             Chênh chếch trăng tà bóng lẻ soi !
   SL

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

CHỜ CHỒNG ,NHÃ MY VÀ THI HỮU


THƠ ĐƯỜNG XƯỚNG HỌA


 Mời các anh chị và các bạn yêu thơ cùng họa:


CHỜ CHỒNG

1-Tđ xa nhau nhạt má hồng
Bao giờ gặp lại thỏa chờ mong

 Người đi biên ải mù tin nhạn

  Kở phòng không vẹn chữ tòng
Thắm thoát mười mùa cây rụng lá

 Âm thầm một kiếp đá trông chồng
Tóc phai đã đi thời xuân sắc
Biết đến người về nhận được không?

2-Biết có ngày vđể gặp không?

Hay là trọn kiếp nhớ thương chồng
Vọng phu thành đá tàn hương sắc

 Tùng tử cam tâm nhạt phấn hồng
Son sắt giữ gìn câu tđức
Đá vàng ghi khắc chữ tam tòng
Có trách thời gian sao chẳng biết
Lặng lẽ mười năm vẫn đợi mong!

                    NHÃ MY





CÁC BÀI HỌA


THƯƠNG CHỒNG

Anh hỡi! Nơi nào có biết không?
Mười năm đứt ruột nhớ thương chồng
Chàng đi khắc họa câu phu xướng
Thiếp ở ghi tâm cụm phụ tòng
Bến cũ xuân về hoa lá đợi
Quê xưa hđến yến oanh mong
Sương lam lần nhuộm dài lên tóc
Gương lượt tìm xa kiếp má hồng

              GIANG ĐÀ


NHŨ CHỒNG

Tệ nạn ta cùng quyết nói không
Làm trai phaxứng với danh chồng
Niềm tin vợ gởi ,con luôn cậy
Hạnh phúc đời trao,phận mãi tòng
Vững lái đưa thuyền cập bến đậu
Bền tâm định ý tới bờ mong
Mình ơi,nắm chặt tay nhau nhé
Đẹp lắm duyên ai vẹn sắc hồng

                   ANH ĐỨC


HỎI ĐÁ VỌNG PHU

Thời tóc lơi buông má ửng hồng
Chàng chờ, thiếp hẹn, mẹ cha mong
Thắm duyên Tần Tấn tròn danh tiết
Đẹp nghĩa Tào Khang vẹn chữ tòng
Cứ ngỡ gái ngoan an phận vợ
Nào hay ma mị hớp hồn chồng.
Dòng sông chảy ngược trong hay đục
Hóa đá đỉnh non… Có lạnh không?      


             HẠT CÁT


  
TRÔNG CHỒNG

Sắc thắm dần phai tủi phận hồng
Bặt tăm quan ải rụng ngày mong
Lửa hương giữ thắm tình phu phụ
Non nước cùng cam đạo xuất tòng
Mắt dại mơ hồ mòn mỏi nhạn
Lòng ngây rũ rượi tưởng tơ chồng
Phương trời hoang lạnh hai phương nhớ
Đành gặt xuân thì mất trắng không!

                  QUỲNH LÝ ĐỨC

      

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

NỖI NIỀM CÔ PHỤ - LA THUỴ & THI HỮU

HỌA THƠ LA THỤY




NỖI NIỀM CÔ PHỤ
  (Tặng chị Minh Trinh)

Dõi bóng lang quân đã biệt ngàn
Ôm niềm nhung nhớ héo dung nhan
  Chàng nơi âm cảnh mờ sương khói
Thiếp chốn phù sinh vịn xóm làng
Tđức sắt son cam khổ nhọc
Tam tòng chung thủy chịu tân toan
Chiều xuân đếm tuổi soi màu tóc

 Hoài vọng tri âm dạo khúc đàn

               LA THỤY

               
            



CÁC BÀI HỌA


CÔ PHỤ

Trống trải hoàng hôn lạnh gió ngàn
Một mình năm tháng mấy lo toan
Người đi chẳng hiểu câu tha thiết
Kẻ ở hoài trông  giấc lỡ làng
Tình bạc quên đành ân nghĩa thắm
Thủy chung nhớ mãi sắc hương tàn
Nỗi niềm đơn lẽ  sầu hiu hắt
Chẳng trọn tình yêu lỗi nhịp đàn

        NHÃ MY



NỖI LÒNG QUẢ PHỤ

Anh đi khuất núi nẻo mây ngàn
Vò võ thân em úa sắc nhan
Cách biệt ngưòi dời về cõi phật
Cam tâm thiếp chịu dựa dân làng
Hồng nhan bạc mệnh nhiều cơ trải
Phận mỏng cánh chuồn lắm nỗi toan
Tuế nguyệt dần phai sương điểm tóc
Giữ trau tiết hạnh trọn cung đàn.

           HẢI ĐĂNG


NỖI NIỀM

Gió bụi thu phai tiễn dặm ngàn
Gương sầu đối bóng rũ hồng nhan
Năm canh trăng khuyết miền cô tịch
Sáu khắc đời chao phận lỡ làng
     Lẻ thiếp mơ tròn câu hạnh ngộ
     Thương chàng vẹn giữ nghĩa lo toan
     Xuân sơn soi nước màu thu thủy
     Sóng vọng ba đào gió lạnh đàn!...

          QUỲNH LÝ ĐỨC


 

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

ĐỐI NGẨU TRONG THƠ ĐƯỜNG


ĐỐI NGẪU TRONG THƠ ĐƯỜNG - Nguyễn Văn Thụ - Ngọc Tình sưu tầm và gởi đăng

 Nguồn : TẠP CHÍ VĂN NGHỆ QUẢNG TRỊ

ĐỐI NGẪU - LÀ MỘT VẺ ĐẸP ĐẶC SẮC, LÀ MỘT TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT.

*

Tôi được biết, người sáng tác thơ luật Đường khi bắt gặp một cảnh huống thơ, hồn thơ đang dào dạt, bao nhiêu ý tứ cứ trào ra, vội phô diễn nó lên giấy mực. Chưa xong. Người sáng tác thơ còn phải cô đúc, dồn nén, sao cho số câu, số chữ phải đúng theo luật; số chữ trong bài có thanh trắc phải xấp xỉ số thanh bằng. Nếu ta gọi chữ có thanh bằng là số (+), chữ có thanh trắc là số (-), thì luật âm dương này thăng giáng bù trừ sát sao đến từngliên thơ, đến cả bài thơ. Đó chính là điều hé mở khái niệm về sự cân bằng, có ý nghĩa triết học cổ phương Đông nằm trong hình thức thơ Đường luật.

*

- Ý nghĩa triết học nêu trên còn thể hiện rõ ở phép đối ngẫu.
Trong một liên thơ (hai câu) được gọi là có đối, thì câu trước, nó như tung, câu sau nó như hứng, nó nương vào nhau làm cho ý thơ thêm mạch lạc.

Vậy hèn chi, người ngàn xưa đã chả đưa đối ngẫu vào thể thơ này như một điều bắt buộc.
Từ đầu thế kỷ trước, đối mặt với sự thắng thế của phong trào thơ mới, Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ thành danh, không nỡ bỏ hẳn thơ Luật Đường, ông đã sáng tác nhiều bài thơ không đối, chỉ giữ lại có luật hạn câu, hạn chữ, hạn vận, hạn bằng trắc. Vũ Hoàng Chương xem những bài thơ đó chỉ là một thực nghiệm. Sau đó, song song với việc sáng tác thơ mới, ông còn sáng tác nhiều bài thơ luật nghiêm chỉnh khác (như bài đa thủ “Giấc mơ tái tạo”).

Chúng ta nay một khi đã gửi hồn cho thể thơ luật Đường thì đừng có bao giờ bực bội giữa khi đang có hồn thơ lai láng, lại bị nghẽn bởi hai cặp đối ở hai câu thực, luận và nóng vội cho rằng: làm gì mà phải đối chặt chẽ vậy.

- Đối ngẫu trong thơ đường luật bát cú, thất ngôn, ngũ ngôn nói tổng quát là có 2 phép: Phép chỉnh đối và phép khoan đối.

Dưới đây chúng tôi xin được trao đổi về 2 phép đối này. Các ví dụ được nêu ra để phân tích, chúng tôi lấy từ một số bài thơ đã in trong “Thơ Đường quê lụa” tập 5, NXB Văn hóa Dân tộc, 2008.
*
PHÉP CHỈNH ĐỐI

Nguyễn Thu Hà, người trẻ tuổi nhất của CLB, trong bài “Duyên quê”, cặp thực, đối như sau:

Anh nắm bàn tay thon ấm áp,
Em cười đôi mắt sáng long lanh.

Thật là chỉnh, thật là chính danh: anh với em, bàn tay với đôi mắt (Danh từ đối với Danh từ), Thon với sáng (Tính từ đối với nhau), ấm áp với long lanh (Trạng từ láy đối nhau). Hai câu thơ tình đằm thắm đến thế mà lại không thấy lả lơi. Thu Hà đã huy động phép đối rất nghiêm để đạt hiệu quả.
*
Hạnh Anh (Đỗ Biện), trong bài “Đêm thu” câu 5,6 đối như sau:

Hoa cúc bâng khuâng ly rượu ngát
Hoa nhài thao thức chút hương phôi.
Cặp đối chính danh này rất nghiêm về thể thức, nhưng lại rất hào hoa.

Cụ Tạ Đăng Viên, ngoại 80, có bài “Tự thọ” rất hóm hỉnh, cụ có cặp luận:

Kính mắt gà đeo tròng chấp chới
Gậy càng cua chống bước lon ton.

Bằng hai câu đối chặt chẽ, như vẽ nên, như trông thấy một cụ đại thọ nhanh nhảu hồn nhiên trước mắt ta.

PHÉP KHOAN ĐỐI

Để cho một chùm thơ, một tập thơ không bị đơn điệu về hình thức đối ngẫu, người xưa đã đưa ra nhiều phép đối ngẫu linh hoạt hơn.

Phép lưu thủy đối:

Ví dụ:
Còn chăng lời hẹn bên trang sách,
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.
Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là phép Lưu thủy đối.
Phép tá tự đối:

Ví dụ:

Nghèo sạch, thanh danh nên gắng giữ
Giầu sang, khó tính chớ nên chơi.

Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là phép Lưu thủy đối.
Tất cả các liên thơ mà câu trên bắt đầu bằng mấy chữ tương tự như: còn chăng…, đã sinh…, bỗng dưng…, ứng với đầu câu dưới là các chữ tương tự như: hay đã…, phải có…, để mà…, v.v. thì liên thơ đó đã theo phép đối nói trên.

Câu trên, “thanh danh” là danh từ, câu dưới “khó tính” là tính từ, xét thế thì quả là bất đối. Nhưng nếu theo tiếng (không theo nghĩa thật), thì chữ “khó”, chữ “thanh” lại là tính từ; Chữ “danh” và chữ “tính” lại là danh từ. Xét theo cách này thì chúng lại đối chặt chẽ với nhau. Phép đối này người ta lợi dụng sự đồng âm dị nghĩa để Tá tự đối (như: hai mái trống tung đành chịu dột/ tám giờ chuông điểm phải nằm co – của Tú xương).
*
Phép số tự đối gắn với Tá tự đối:

Ví dụ: 

Học bẩy nghề còn lo thất nghiệp
Làm ba vụ vẫn đói tư mùa.
Hơi tiếc, ở câu dưới viết: ba vụ đối với tư mùa, tuy là đúng có nội đối ở trong câu, nhưng không hay bằng câu trên: bẩy cái nghềthất (mất) cái nghiệp. Câu dưới, nếu không vì luật bằng trắc, mà viết là: “Làm tư vụ vẫn đói tứ mùa”, thì câu đối này được xếp vào hạng tuyệt diệu. Phép dối này được xem như là phép số tự đối có kèm theo lối chơi chữ (có thể liên hệ đến: nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc - của bà Huyện Thanh Quan).
Phép cú trung đối:

Ví dụ:

Màn trời chiếu đất con người khổ
Nước vật thuyền xơ cá biển nghèo
Nếu câu trên, câu dưới cứ chiếu từng chữ lên nhau, thì hai câu này cũng bất đối. Nhưng xét nội bộ từng câu, thì lại thấy: màn trời đối với chiếu đất; nước vật đối với thuyền xơ; đuôi câu trên (con người khổ) đối rất chặt với đuôi câu dưới (cá biển nghèo). Lấy câu có nội đối để đối nhau thì lại rất cân bằng. Đây là cú trung đối.
    Tuy nhiên còn một số phép đối khác chúng ta ít vận dụng, xin được dẫn ra đây để cùng tham khảo.
a) Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ?
Xương gà da cóc, có đau không?
(Nguyễn Khuyến)
*b) Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
(Hồ Xuân Hương)
c) Công đức tu hành, sư có lọng
Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe.
(Tú Xương)
Chúng ta để ý: Cụ Nguyễn Khuyến cũng như nữ sỹ Xuân Hương đã tổ chức từ ngữ ở từng câu, để câu nào cũng có tiểu đối, nhưng ta không xếp hai liên đối a,b nêu trên vào phép Cú trung đối, vì ngoài phần có tiểu đối, trong từng câu còn có phần bất đối. Do đó hai liên thơ a, b trên chúng ta quy vào phép Tựu cú đối.
    Trong câu của Tú Xương, ông Tú đã đem cả hai cụm từ như hai thành ngữ để chọi nhau: công đức tu hành chọi với xu hào rủng rỉnh. Mặt khác đuôi của từng câu lại đối rất chặt với nhau: sư có lọng đối với mán ngồi xe. Phân tích đặc điểm này để kết luận: đây cũng là phép Tựu cú đối như a và b. Cú trung đối và Tựu cú đối, có dạng thức ngữ pháp của câu văn na ná như nhau, nên còn có tên chung là Đương đối.

Phép giao cổ đối:

Cụ Trần Tuấn Ngọc, trong bài “Tự nhủ”, (Bạn và thơ là xuân – NXBVHDT, Hà Nội 2004), có câu luận:

Chân bước vững, đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp, trúc vươn cao.
Đây chính là phép Giao cổ đối: chân bước vững đối chéo xuống với trúc vươn cao, và rừng cây rậm rạp đối chéo lên với đường chiều khấp khểnh.

Phép bất đối chi đối:

Trong buổi lễ tế “Trận vong tướng sỹ” thế kỷ 19, quan tổng trấn Nguyễn Văn Thành có sai trưng câu đối chữ Hán (nay dịch nghĩa) như sau:

Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Câu trên lấy từ thơ Thôi Hiệu, bài Hoàng Hạc Lâu. Câu dưới lấy từ thơ Vương Hàn, bài Lương Châu Từ.
Cái hay của đôi câu đối này là: Ghép hai câu thơ khác nhau của hai tác giả mà câu đối vẫn hiệp chung một tình ý. Câu 1 có đại ý là cảm thán tình cảnh, câu hai có đại ý là an ủi vong linh. Thật là quá hợp với nội dung Tế Trận Vong Tướng Sỹ. Đây là phép bất đối chi đối, lấy cái không đối để đối, không lệ thuộc vào mặt chữ mà chỉ chú trọng đến ý. Ý phải đối nhau, cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng dạng với nhau.

Những bậc cao niên khuyên rằng, nếu một khi ta chưa thật thạo về các phép đối, thì chỉ nên sử dụng các phép chỉnh đối, lưu thủy đối, cú trung đối. Còn các phép đối khác, chúng ta hãy chỉ làm quen, giúp chúng ta nhận biết được các dạng thức đối khác nhau.

Vẫn phải thưa thêm: các phép đối thơ, dù ở dạng thức nào đều phải hội đủ 3 đặc điểm:
-    Đối ý. Ý câu trên và câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
-    Đối thanh âm. Chí ít là các chữ nằm ở vị trí 2, 4, 6, 7 (Thơ thất ngôn) và 2, 4, 5 ( Thơ ngũ ngôn) nhất thiết phải tuân theo luật bằng trắc.
-      Đối từ loại, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ. Phải nắm được các phép biến đổi từ loại ở các ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên, cũng có phép đối không yêu cầu đối từ loại như theo phép chiếu chữ, mà ở đó lại có sự xoay chiều để đối chéo cho nhau.

Viết bài này tôi chỉ nhằm mục đích trao đổi thêm về vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật. Trong một bài thơ, những cặp đối ở các câu thực, luận chính là vẻ đẹp đặc sắc, và là một trong những điều kiện cần và đủ để nhận ra đó là một bài thơ Luật đường. Đọc thơ Đường luật mà không có đối thì chẳng khác gì “Ăn bánh nướng trung thu mà không có nhân thập cẩm” thật là nhạt nhẽo và vô vị.
Trong bài này, việc đặt vấn đề của tôi là chắc chắn đúng nhưng việc lấy ví dụ để phân tích thì có thể có chỗ còn nông cạn, thậm trí có chỗ còn thiếu sót. Để góp một chút lửa thắp sáng cho thơ Đường đất Việt, rất mong bạn đọc rộng lượng và cùng đồng hành.



                        
NGUYỄN VĂN THỤ
Chủ nhiệm CLB thơ đường Hà Nội








Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

HƯ KHÔNG 2

THƠ NỐI KẾT HUY THANH  - NHÃ MY









HƯ KHÔNG(2)

Cuộc đời là kiếp phù du (HT)
Tình yêu bỗng hóa sương mù gió bay
-Một hôm trở giấc viễn hoài
Còn nghe đồng vọng đôi tay ngàn trùng
Nghe từ chốn ấy hư không
Một con chim vạc bảo bùng lẻ loi
Mây buông chiều tím ngừng trôi (NM)
Hạt sương nước mắt khóc đời long lanh
Biết rằng tình đã mong manh
Mà sao xa cách không đành lòng nhau
Mưa ngâu trời đổ giọt sầu
Ai qua mùa nhớ lỡ màu tóc xanh
Em về tình đã rêu phong (HT )
Trùng dương thăm thẳm nỗi lòng xa khơi
Gió giông bảo táp tơi bời
Tình theo con sóng chơi vơi tấc lòng
Trăm năm rồi cũng hư không (NM )
Sương tan, hoa rụng, sóng lòng hoang vu

Chơi vơi mấy tuổi sương mù(HT)
Lời tri âm giữa thiên thu khói mờ
Trùng dương chặn mối giây tơ
Biết ai còn có đợi chờ ai kia ?
Khuất người biền biệt sơn khê
Rêu phong hồn đá nảo nề riêng ta
Lá rơi mấy chiếc giang hà
Hồn ta mông quạnh bao la nổi sầu.

HUY THANH & NHÃ MY
Tặng NM SL


Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

NHỚ HẠ







NHỮNG BÀI THƠ CHỦ ĐỀ MÙA HÈ CỦA NHÃ MY


NHỚ HẠ
Tôi về qua cỗng trường xưa
Hàng hoa phượng đỏ đong đưa nắng hè
Rộn ràng trổi khúc nhạc ve
Sân trường vắng bóng bạn bè vui chơi
Trắng tinh áo mỏng tóc thề
Ai che nón lá lối về giữa trưa
Đâu rồi em của ngày xưa
Để tôi đứng ngắm cho vừa nhớ thương



MÙA HẠ
Mùa hạ về nghe tiếng ve kêu
Ngôi trường chìm trong phượng đỏ
Ôm sách vỡ em ngồi lặng lẽ
Bâng khuâng sân vắng một mình
Nắng chan hòa trên những lối đi
Gió bay bay tà áo trắng
Còn đâu nữa tháng ngày trông ngóng
Chia tay lưu bút ngập ngừng
Màu mực tím trên trang giấy lụa
Giấu tình thơ đẹp vô ngần
Em đứng đó dịu dàng trong sáng
Ai về dệt mộng tương tư
Bên nhau không nói một lời nào
Chỉ nghe cay cay khóe mắt
Ba tháng xa mà nghe đơn côi
Biết người về rồi có nhớ...


NHỚ
(bài cũ đăng ngày 15/6/2011)
Nắng vàng
Phượng đỏ ngoài song
Tiếng ve như thể tiếng lòng chia xa
Xếp trang lưu bút ngày qua
Thơm mùi mực mới ngọc ngà thơ ngây
Trường xưa lớp cũ còn đây
Mà sao nhớ quá
Bạn thầy nơi nao?
Chín mươi ngày có là bao
Mà sao cứ nhớ
Nhớ nhau
Và buồn...

(1972)