CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

VỌNG TÌNH - THƠ NHÃ MY, NHẠC TRẦN NHÀN










VỌNG TÌNH
THƠ : NHÃ MY
NHẠC & HÒA ÂM: TRẦN NHÀN
TRÌNH BÀY: NGỌC HUỆ
VIDEO CLIP: PHÚ ĐOÀN

NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN  TRẦN NHÀN, NGỌC HUỆ VÀ LA THỤY VỚI MÓN QUÀ VĂN NGHỆ LÀ CA KHÚC NÀY



VỌNG TÌNH


Sao rụng chờ bình minh đến
Sương còn mấy hạt rơi rơi
Cơn gió lay lay ngọn nến
Tình hồng sót lại chưa vơi


Vạt trăng khều lơi giấc ngủ
Mộng về phủ kín chăn đơn
Lá lay gọi hồn mùa cũ
Kèo nài nỗi nhớ xa hơn


Sợi tình theo mưa vừa rụng
Buồn tìm đoạn đứt mang theo
Không gian hốt nhiên đứng sụm
Bên trời mây lặng trăng treo


Đèn vẫn chong đêm đợi sáng
Lời ca da diết chưa ngừng
Lỡ mai tình nồng đã cạn
Vấn vương chiếc bóng lưng chừng


Bên hiên lao xao tiếng lá
Mơ màng dáng ngọc xa xưa
Thẹn thùng hỏi ai vàng đá
Ngàn năm tình vẫn như đùa 


NHÃ MY


Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

ÁO LỤA QUA SÔNG , THƠ NGUYỄN AN BÌNH, NHẠC BẠCH NGỌC LONG










ÁO LỤA QUA SÔNG
THƠ :NGUYỄN AN BÌNH

NHẠC: BẠCH NGỌC LONG

TRÌNH BÀY :QUỲNH DAO NGUYỄN

ẢNH MINH HỌA TRONG CLIP CỦA HỌA SĨ ĐỖ DUY TUẤN



 
ÁO LỤA QUA SÔNG
Ai người áo lụa bên sông
Hương bay theo gió tình không đợi mùa
Phố gầy reo bước chân mưa
Ướt bờ vai nhỏ ngày xưa đâu còn


Ai người ngậm ngải trèo non
Săn trầm đáy biển nhớ con sông dài
Lạc rừng chim bỏ đường bay
Tầm xuân chưa kịp trao tay đã tàn


Ai người mơ phút tương phùng
Ấp yêu sỏi đá nghìn trùng mây bay
Hoa thơm một phiến tình say
Trăm lằn chỉ rối vòng tay ơ hờ


Ai người nhả chữ gieo thơ
Hương tình xưa có đợi chờ mà trông
Gởi cùng áo lụa qua sông
Tìm đâu chiếc lá diêu bông tặng người

    NGUYỄN AN BÌNH
      2013


Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

CẢM NHẬN BÀI THƠ TIỄN BẠN CỦA HOÀNG YÊN LYNH - LÊ PHƯỚC






TIỄN BẠN
Cạn ly đầy…
Mai bạn chia tay
kẻ ở người đi xưa nay vẫn thế
Bạn cứ đi…đừng ngậm ngùi người ở lại
Tôi sống khổ lâu rồi
Cay đắng cũng thành quen

Ngày tàn dần nắng úa đổ trên nương
Kỷ niệm xưa ùa về trong tâm tưởng
Nhớ mặt
Gọi tên
Từng thằng bạn cũ
Đứa chết không mồ
Đứa mòn mỏi chốn tha hương

Ly rượu này bạn gửi lại quê hương
Dẫu đất xa cũng có ngày trở lại
Như vầng trăng lúc khuyết lại đầy
Bao dòng sông rồi cũng về biển cả

Bạn cứ đi
Đừng ngậm ngùi chua xót
Chuyện bể dâu như trái đắng cuộc đời
Bên chân núi này
Ngày mai ngày mốt
Tôi một mình uống rượu ngóng sao rơi
Để biết một điều bạn đã xa tôi

Bạn cứ đi
Chia tay là thế
Chung rượu ngày về
Còn vướng nặng tình quê
Bạn cứ đi
Còn tôi bên trời quê lận đận
Chuyện chiến chinh
Chuyện đời trôi nổi
Kỷ niệm bọn mình năm tháng điêu linh

Bạn cứ đi
Rồi ra mình gặp lại
Như cuộc đời ấm lạnh vốn xưa nay
Bạn cứ đi…
Đừng ngậm ngùi…chi nữa
Ly rượu này ghi nhớ buổi tiễn đưa

  HOÀNG YÊN LYNH
(Trích tập thơ Chuyện Bên Đời trang 104-105 NM trích dẫn)

CẢM  NHẬN BÀI  THƠ  TIỄN BẠN
                               CỦA HOÀNG YÊN LINH .


Tôi không hề biết tác giả bài thơ nhưng qua tập thơ Chuyện Bên Đời của Hoàng Yên Linh với lời giới thiệu của người bạn đồng hương Quảng Trị , tôi đã tìm đọc với ý nghĩ như tìm về lại cố hương , nơi mà tôi đã phải chia xa hơn nửa đời người . Tôi yêu thơ văn , nhưng không là người làm thơ , viết văn nhưng với bài thơ Tiễn Bạn của Hoàng Yên Linh , tôi đã bắt gặp chính tôi , với tâm sự như của chính mình khi  chia tay người bạn với biết bao kỷ niệm , với những cay đắng , tủi cực mà những người cùng hoàn cảnh với tác giả đã từng gánh chịu
Tôi , một người Quảng Trị  đã đau thương bỏ lại quê hương trong cảnh bom rơi đạn lửa , đã từng sống với bạn mình qua năm tháng chiến tranh và với năm tháng cày sâu cuốc bẩm , chia nhau từng củ sắn , rau rừng rồi đến một ngày mừng cho bạn mình được thoát khỏi cảnh đời cơ cực . Và cũng buổi tiễn đưa như thế , bạn ra đi mà xót xa cho người còn ở lại… Và bài thơ , gợi lại trong tôi hình ảnh buổi tiễn đưa của hơn hai mươi năm trước . Cũng trong mái nhà tềnh toàng bên chân núi , cũng buổi chiều se lạnh của núi rừng Tây nguyên . Người đi với niềm vui không trọn vẹn khi  người bạn vẫn còn tha hương , lận đận  , vẫn còn đối mặt với biết bao điều cay đắng mà không thể nào nói được .

Chuyện chia ly , như tác giả đã viết … xưa nay vẫn thế … nhưng với chuyện tiễn đưa người bạn , tác giả bài thơ cho ta cái nhìn khác hẳn . Thông thường , người đi là người buồn thương , tiếc nhớ để lại quê hương những hình ảnh , những tình cảm mà nay đường đời khiến ta phải chia biệt …Và với người đi , là nỗi cô đơn trên bước đường lữ thứ , là đường đời bất định , là canh cánh bên lòng nơi chôn rau cắt rốn … Thì ở đây , nỗi đau , nỗi cay đắng lại nơi người ở lại . Người đi lại xót xa , buồn thương cho người ở . Có một điều gì đó như nghịch lý .

Bạn cứ đi … đừng ngậm ngùi người ở lại
Tôi sống khổ lâu rồi
Cay đắng cũng thành quen

.
Để hiểu điều này . Phải là những người có chung cảnh ngộ , đã sống vá trải qua năm tháng đối mặt với bể dâu lịch sử . Vâng , người đi … sẽ là một chân trời mới đang chờ đợi . Ở đó anh sẽ không còn nỗi đau , cay đắng tủi nhục , ê chề …


Bạn cứ đi
Còn tôi bên trời quê lận đận
Chuyện chiến chinh
Chuyện đời trôi nỗi
Là kỷ niệm bọn mình năm tháng điêu linh .


Tôi thật sự xúc động khi đọc đến đoạn thơ này. Hình như là chính tôi ,là tác giả viết cho riêng tôi .

Chỉ với mấy câu thơ này thôi , ta sẽ lý giải được tại sao người đi lại xót xa cho người ở lại . Nhưng cũng phải nói thêm . Nỗi buồn , nỗi cay đắng  . Vâng , đúng thế nhưng toàn bài thơ vẫn là tình cảm chân thành mà không bi lụy . Vẫn lóe lên chút ánh sáng dẫu giữa khung trời hắt hiu , xám xịt .

Bạn cứ đi
Rồi ra mình gặp lại . . .
Ly rượu này ấm lại buổi tiễn đưa


Và tình bạn ,khi đã là tri âm tri kỷ… một khi phải chia ly , cách biệt thì nỗi cô đơn , trống vắng dày xéo tâm hồn không những với người đi mà cả với người ở . Nỗi đau đó càng da diết khi phải một mình cô đơn  , quạnh quẽ bên chân đồi gốc núi sống với bao kỷ niệm

Bên chân núi này
Ngày mai ngày mốt
Tôi một mình uống rượu ngóng sao rơi
Để biết một điều bạn đã xa tôi .


Tôi vốn là một người hơi khó tính … vẫn thường hay ” dị ứng ” với thơ văn một chiều , với những chuyện trên mây khi mà cuộc sống vốn có biết bao điều để nói , để viết . Vậy mà , khi đọc bài thơ Tiễn Bạn  tôi lại thấy lòng mình ray rứt , khắc khoải và chuyện năm tháng cũ ngỡ đã vùi chôn theo năm tháng đã sống lại trong tôi . Và tôi đã đi tìm , xem tác giả bài thơ là ai .  Khi được sẻ chia tâm sự với Hoàng Yên Linh tôi càng nhận ra , thơ nói lên tâm sự u uẩn , chuyện thật của đời chính là thơ ở mãi trong lòng người đọc , sâu lắng , xúc động và cũng là một phần chứng tích của một thời …Viết đến đây , bất chợt tôi lại nhớ mấy câu thơ trong bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm ( tôi không có ý so sánh )

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Nắng chiều không thắm , không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong .
( Thâm Tâm )


Dù khoảng cách thời gian , không gian có xa và khác hẳn nhưng nỗi đau của chia ly , nỗi buồn của buổi đưa tiễn vẫn là tiếng lòng thê thiết mà chỉ với người trong cuộc mới thấm đẫm nỗi đau ,nỗi nhớ đó  .

Có một ai đó đã viết ” Anh có tất cà nhưng anh thiếu vắng bạn bè , anh sẽ không có gì hết …” . Điều này thật đúng khi anh không còn bạn hữu , khi cuộc sống đẩy đưa khiến mình phải chia xa bằng hữu , khi mà tuổi đời đã xế mà bạn bè xa vắng . Tất cả chỉ còn trong kỷ niệm  mà hình ảnh của kỷ niệm lại càng da diết với nỗi nhớ . Tâm trạng đó , tôi nghĩ không phải chỉ riêng tác giả mà như với những ai đã đi qua , đã sống  với ân tình tri âm , tri kỷ và cũng như tôi , cuối đời xa quê , cô đơn chỉ biết làm bạn với quá khứ .
Cám ơn bài thơ , cám ơn tác giả đã nói giúp tôi những tâm tình , những dằn vặt mà tôi không đủ khả năng để viết , để sẻ chia cùng bạn tri âm . Và tôi nghĩ , người bạn của tác giả nếu mà đọc được bài thơ này hẳn cũng như tôi , xúc động và trân trọng tình bạn , một tình bạn chân tình mà không phải dễ có được trong cảnh đời dâu bể , khi mà nhân nghĩa cuộc đời đều điên đảo,khi mà năm tháng chỉ là nỗi đau chồng chất với tuổi già cô đơn xa xứ .


    LÊ PHƯỚC
Đateh -Lâm Đồng


Nguồn; từ email của Hoàng Yên Lynh gửi lamngọc để chia xẻ với bạn đọc blog Nhã My
NM cảm ơn tg Lê Phước và nhà thơ hoàng Yên Lynh

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

NGÂY THƠ NGÀY CŨ - Nhã My, Thanh Chương, Bùi Tuấn Anh









 Liên khúc NGÂY THƠ NGÀY CŨ

THƠ: NHÃ MY
NHẠC : BÙI TUẤN ANH, THANH CHƯƠNG
HÒA ÂM: TRẦN NHÀN
CA SĨ : CHÂU THÙY DƯƠNG
VIDEOCLIP: PHÚ ĐOÀN


NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN 2 NHẠC SĨ BÙI TUẤN ANH , THANH CHƯƠNG, NHẠC SĨ TRẦN NHÀN,  CA SĨ CHÂU THÙY DƯƠNG VÀ LA THỤY.



Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

CHÂU ĐỐC - ĐỒI TỨC DỤP


Ảnh  của NMSL








            Khu di tích lịch sử Tức Dụp nằm trong ngọn núi Cô Tô, thuộc địa phận thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.cũng là một địa điểm du lịch ở Châu Đốc
Tức Dúp - ( người Việt gọi là Tức Dụp )  - theo tiếng Khmer có nghĩa là “nước đêm”. Đồi Tức Dụp có độ cao khoảng 300m và chu vi khoảng 2.200m. Nhìn từ xa, núi Cô Tô và đồi Tức Dụp trông giống chim phượng hoàng nên còn gọi là Phụng Hoàng Sơn.


        Chuyện cổ tích  kể rằng, ngày xưa thuở ban sơ của trời đất, các tiên nữ thường dừng chân trên đỉnh Cô Tô, dạo chơi, tắm giặt hay đùa nghịch. Một hôm các nàng bày trò ném đá xuống chân núi. Ðá rơi chồng chất lên nhau thành ngọn đồi con. Dòng suối tắm đổ xuống chảy qua lòng đụn đá rơi. Từ đó suối và đồi có mặt trong trời đất, bên chân núi Cô Tô của vùng Thất Sơn hùng vĩ.


         Một ngày nọ, những người mở đất đến đây. Gặp mùa nắng hạn, khát cháy ruột gan, đêm nằm không ngủ được, bỗng nghe tiếng nước róc rách phát hiện ra giữa quả đồi khô hạn có dòng suối mát chảy qua và vaò ban đêm thì nước chảy nhiều hơn. Tên gọi Tức Dụp (nước đêm) có từ đó và ngọn đồi trở thành chốn linh thiêng. Vào các ngày lễ, sư sãi và già làng mang lễ vật đến cúng thánh thần, trời đất rồi rước nước suối về phum sóc.


        Tây Nam Bộ là vùng đất mầu mỡ phù sa, lắm tôm nhiều cá, mọi thứ ở đây đều được thiên nhiên ưu đãi. Ðồi Tức Dụp được trời đất ban tặng cho một hệ thống hang động thiên nhiên chi chít như tổ ong vĩ đại, thông nhau bởi muôn vàn ngõ ngách và kẹt đá. Từ những năm 1940, Tức Dụp đã là nơi ẩn náu của các chiến sỹ cộng sản. Khi bị ruồng bố nhân dân đem bánh trái đến trước cửa hang cúng Trời Phật, nhưng thực ra  là tiếp tế cho cách mạng.

 Từ năm 1960, Tức Dụp là căn cứ của huyện uỷ Tri Tôn và tỉnh uỷ An Giang, là chiếc cầu quan trọng đưa các binh đoàn miền Bắc vượt Trường Sơn qua Cam-pu-chia toả xuống khắp chiến trường Tây Nam Bộ.

       Theo qui định của khu du lịch thì các đoàn từ 15 người sẽ được hướng dẫn vào thăm các hang động trên đồi vốn là nơi trú ẩn và bộ phận chỉ huy  lực lượng cách mạng trong thời chiến Đoàn của chúng tôi 13 người nhưng đều là các gv ̣hồi hưu và tại chức nên cũng được một cô hướng dẫn viên tận tình hướng dẫn Cô gái còn trẻ ăn nói lưu loát, cô thuộc lòng những con số và ngày tháng lịch sử, ̣cùng với một thanh niên theo giúp chúng tôi

       Ðồi Tức Dụp cách biên giới Cam-pu-chia 10km, ngày nay là điểm du lịch kỳ thú. Bốn mùa nước trong xanh và rực rỡ hương sắc của các loài hoa như trong chuyện cổ tích. Ðường lên đồi được lát đá phẳng và đẹp. Các hang động và hàng trăm ngõ ngách vẫn nguyên vẹn như xưa, len lỏi theo những dốc đá cao thấp lồi lõm ,những đường hóc núi chật hẹp tối om. , chúng tôi đã vào nhiều hang động, nào là hang của Ban Chỉ huy Quân sự, Ban Tuyên huấn, Hội Phụ nữ, Dân y, nào là hang cơm nguội. Lại có hội trường C6 ... Mỗi hang là một vẻ độc đáo với những khối đá đan xen tài tình đủ kiểu. Sàn nơi này là đá, nơi kia là ván và tre ghép lại. Không khí lúc nào cũng mát rượi , hơi mát tỏa ra từ đá , thật là kỳ thú...
Khu du lịch trồng nhiều cây cối và hoa , có hồ nước, nhà hàng, đền tưởng niệm, không khí yên tĩnh trong lành , con người hòa hợp với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, núi đồi  hùng vĩ kỳ thú...


         Cũng ở nơi đây tôi có dịp hội ngộ với vợ chồng một người bạn blog ,nhà bạn ở núi Cấm nhưng vì lúc đến núi Cấm tôi phải lên núi gấp không liên lac̀ với bạn được nên hôm sau 2 người đã vượt 15 cây số vào đây . Chúng tôi đã nói chuyện rất thân tình và qua bạn tôi đã biết thêm nhiều điều về Châu Đốc cũng như hiểu thêm về lịch sử các tôn giáo phát xuất ở vùng đất này như đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hòa Hảo, Đức  Huỳnh giáo chủ, ông sải bán khoai...
     Cảm ơn bạn Mai Trang Huỳnh  với bà xã và con gái  đã dành tình cảm cho NM ( ̣̣bạn cũng đã mời cả đoàn đi uống caphê nhưng vì phải về nên chúng tôi từ chối)  và xin hẹn ngày trở lại...



                                                        Hội ngộ với vợ chồng bạn Mai Trang Huỳnh


                     









Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

VĂN TẾ VUA HÀM NGHI - NGUYỄN PHÚC VĨNH BA





ẢNH VUA HÀM NGHI




VĂN TẾ VUA HÀM NGHI
(Linh hồn phong trào Cần vương kháng Pháp)


Hỡi ơi,

Đất khách thân lưu.
Quê nhà hồn mộng.
Vua một nước lưu đày vì nước, khổ ấy là vinh,
Người hai quê khoắc khoải nhớ quê, chết mà như sống.
Việc bôn tẩu mưu đồ diệt tặc, dân còn ghi cốt khắc tâm minh,
Chuyện bại hư hữu chí vô thời, sử đã chép công bình chính thống.

Thế mới hay,

Đạo nghĩa(1) vốn trường tồn,
Giang sơn là chí trọng.
Suốt muôn đời, gương ái quốc treo cao,
Khắp mọi chốn, tiếng ưu dân truyền rộng.

Nhớ linh xưa.

Bẩm tính thông minh
Giống dòng vương tộc.
Đến cái lúc hoàng triều suy nhược, Nam kỳ mất rồi Bắc kỳ(2) cũng mất, nhường sông cắt đất đã hung.
Gặp phải thời bạch quỉ xâm lăng, chiến phí nhiều thêm bồi phí quá nhiều, đòi nợ réo tiền quá thúc.
Bóng triều ca tà xế tựa chiều, tứ nguyệt những tam vương(3)
Mối xa thư vùi rối như tơ, nhất giang mà lưỡng quốc.
Giang sơn binh cách(4), tang tóc thương vong tràn ngập, quân dân xương máu tơi bời,
Điện miếu đảo khuynh, đổi thay phế truất liên hồi, quan tướng kế mưu hiểm hóc(5).
Lên ngôi báu tuổi vừa mới lớn(6), thấy cổn bào mà sợ, từ mẫu ngóng theo,
Cầm quyền uy tóc vẫn măng tơ, lên bảo điện còn run, thị thần dẫn bước.
Điện Thái Hoà rộn gót giày săng đá(7), nghĩ tới thêm đau,
Cửa Ngọ Môn vang giọng nói lang sa(8), nghe mà nổ óc.
Nghi lễ quàng xiên,
Thánh uy meo mốc.

Than ôi,

Trong đã không yên,
Ngoài thì quá bức.
Đờ Cuốc-Xy(9) ngông nghênh doạ nạt, lâu la đông đảo, ta cũng nao lòng,
Hoàng thái hậu(10) mềm dẻo nhún nhường, lễ vật đàng hoàng, chúng càng cậy sức.
Quan Quận cam tâm sang ra mắt, giặc lại làm kiêu,
Quan Tướng phẫn chí thác nằm nhà, mình lo lựa lúc.
Chốn Tân Sở, sơn phòng đã lập, gạo tiền đồn luỹ sẵn sàng
Nơi Kinh Thành, cai đội đang chờ, gươm giáo đao khiên túc trực.
Nhìn dân lành dầu sôi lửa bỏng, lòng xót miên man.
Thấy bọn ác cổ cỡi đầu đè, máu hờn sôi sục.
Chết vì đất nước cũng đành.
Sống với địch thù quá cực.
Đêm Hăm hai, quân ta xuất trận, Toà Khâm Mang Cá lửa cháy pháo vang,
Rạng Hai ba, bọn chúng phản công, Thượng Tứ Lương Y đạn vèo lê thúc.
Dân hoảng hốt đổ xô chạy loạn, lớp chết lớp thương
Lính kiên gan ào ạt diệt thù, đứa rơi đứa gục.
Thương ôi! Gậy gộc chống ngăn đạn sắt, kẻ lủng bụng lòi gan,
Giận thật! Ghe thuyền đánh với tàu đồng, người tan thây vỡ ngực.

Thôi thôi,

Hoàng thành bái biệt, trí thơ ngây nào hiểu được quân cơ(11),
Hiểm địa tị thân, lòng khôn lớn dần nhìn ra thế cuộc.
Cần vương ban chiếu(12), kêu muôn dân góp sức diệt sài lang,
Cứu quốc truyền văn, gọi trăm xứ vùng lên tru xâm lược.
Sơn lam chướng khí, Quảng Trị rồi Quảng Bình Hà Tĩnh, lao đao thân ngọc hao mòn,
Duyên hải viễn biên, Bình Định đến Thanh Hoá Hưng Yên, chốn chốn lòng son sáng rực.
Ngược Bắc có Đình Phùng, Thiện Thuật, … máu thằng Tây đẫm giáo dân lành,
Xuôi Nam thì Xuân Thưởng, Trung Đình(13) gươm quân Việt bêu đầu bọn ác
Khi Ấu Sơn khi Tuyên Hoá, chân ngày đi quen ghềnh thác rú rừng,
Lúc Tân Sở lúc Hương Khê(14), thân đêm ngủ bạn muỗi mòng sên vắt.
Dân vì nước, gà trâu heo lúa, bán sạch mà mua súng đánh Tây
Vua vì dân, đèo ải buôn mường, len khắp cả giương cờ phá tặc.
Sốt run cầm cập, chí đâu sờn bởi chính nghĩa nấu nung,
Rét lạnh rẩy run, lòng vẫn ấm vì nhân dân đùm bọc.

Thương ơi,

Lương cùng đạn kiệt, quan Tướng đành cầu viện lân bang(15),
Thế lẻ thân cô, nhà vua bị gian thần phản trắc(16).
Sa vào tay bạch quỉ vẫn bình tâm thanh thản(17), long uy xui lũ cướp kính vì,
Chết dưới kiếm phản đồ mà bất khuất hiên ngang, hộ giá(18) để đời sau ngưỡng phục.
Mẹ đau cũng mặc(19), nhà tan nước đổ, tâm ý nào thăm viếng dưới trên;
Thầy đến phải chào(20), giấy rách lề nguyên, lễ nghĩa vẫn giữ gìn sau trước.
Cờ quân địch tựa như muối xát, mỉa mai chi người đã thất cơ.
Còi tàu binh nào khác ớt hun, dày vò mãi kẻ đà bại cuộc.
Tủi thân đón cuộc lưu đày,
Xa xót đi về đảo giặc.

Thảm ơi,

Nghìn trùng thương đất mẹ, từ nay côi cút xứ người,
Vạn lý nhớ quê nhà, e trọn sầu bi cõi tục.
Ngàn Thông(21) đó lầu cao gió thổi, vui chi đâu lòng nghẹn mối căm hờn,
“Chiều tà”(22) đây góc tạm đời thừa, xót biết mấy dân còn nơi cũi ngục.
Giữ trang phục, luôn dài đen luôn búi tó(23), nào có quên thân kiếp sa chân.
Giết thời gian, khi khắc tượng khi vẽ tranh, cố tìm nguôi nỗi buồn mất nước.
May mắn thật, nên chồng nên vợ, trai gái nối dõi giòng(24).
Hiếu nghĩa sao, cũng bánh cũng hương, cháu con thờ họ tộc(25).
Năm mươi sáu năm lưu đày vong quốc, tha phương nặng trĩu gánh sầu,
Bảy mươi tư tuổi thọ mãn phước phần(26), tiên cảnh nhẹ nương cánh hạc
Đất lạ mồ xa gởi xác, lênh đênh An Rế(27) lại Lang Sa.
Làng yêu quê mến du hồn, phiêu bạt Cấm Thành(28) qua Thương Bạc.

Nay,

Bùi ngùi bao, tưởng nhớ bậc minh vương.
Cay đắng lắm, xót thương người chính trực
Trời xa mộ lạnh, Tho-nac(29) ơi, xin ấp ôm tàn cốt anh hùng
Đất mẹ quê xưa, Huế đô này, tưởng nhớ mãi uy linh thống khốc.
Hoa hương bày biện, truy niệm ân thâm
Bánh trái cúng dâng, tụng xưng thạnh đức.
Hồn hỡi linh thiêng,
Xin về thụ lộc.

NGUYỄN PHÚC VĨNH BA

Chú thích:

1.      Đạo làm vua phải lo cho dân, nghĩa làm dân phải lo bảo vệ đất nước (Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách).
2.      Theo hiệp ước Patenôtre (Giáp Thân, 1884), triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp ở cả Bắc kỳ và Trung kỳ. Nam kỳ thì đã cát cho Pháp, triều đình Huế chỉ là một hư vị.
3.      Trong vòng bốn tháng, ba vị vua (Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc) đã liên tiếp bị phế truất trước khi vua Hàm Nghi lên ngôi. Pháp đặt Toà Khâm sứ ở hữu ngạn sông Hương chính thức bảo hộ Nam triều theo hiệp ước Giáp Thân. Hồi ấy truyền tụng câu đối “Nhất giang lưỡng quốc nan phân Thuyết/ Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.
4.      Ở Nam kỳ cũng như Bắc kỳ các phong trào kháng Pháp nổ ra khắp nơi gây nhiều tổn thất cho giặc Pháp.
5.      Hai phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường (Quan Quận) và Tôn Thất Thuyết (Quan Tướng) đã ám hại nhiều người như vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc, Phụ chánh Trần Tiễn Thành, Hồng Sâm, Hồng Phì,.. vì họ không theo chủ trương đánh Pháp của hai ông này.
6.      Vua Hàm Nghi (1871 - 1944) lên ngôi mới 13 tuổi. Khi có người đưa áo mão đến ngài không dám nhận, và khi bước lên ngai vàng phải có thị thần dìu đi.
7.      Đại tá Guerrier và Khâm sứ Rheinart vào điện Thái Hoà làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi ngày 27.6 năm Giáp Thân (1884).
8.      Tháng 4 năm Ất Dậu, Thống tướng De Courcy sang Bắc Kỳ. Tháng 5 y mang 1024 quân đi tàu đến Huế, đòi hai quan phụ chánh Tường và Thuyết sang Toà Khâm trình diện. Giày da của lính Pháp thường được gọi là giày săng đá (soldat: người lính)
9.      France (nước Pháp) được âm ra tiếng Việt là Phú-lang-sa, hay còn gọi tắt là Lang-sa.
10. Hoàng thái hậu Từ Dũ lệnh mang lễ sang tặng Thống tướng De Courcy để mua chuộc lòng y, nhưng y không nhận.
11.  Theo Nguyễn Quang Trung Tiến trong bài “Vị thiếu niên trưởng thành từ niên thiếu” đăng ở Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ số 01 (7), 1995 thì khi hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu vua lánh đi tị nạn, vua Hàm Nghi bảo “ Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy.”
12.  Ra Tân Sở, ông Thuyết xin lệnh vua ra Hịch Cần Vương, rồi sau đó ban Dụ Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi lên đánh Pháp, giành độc lập Tổ quốc.
13.  Phong trào Cần Vương sôi sục nổ ra khắp nước, tiêu biểu như Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Phan đình Phùng ở Hà Tĩnh, Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi,...
14.  Tân Sở (Quảng Trị), Ấu Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình) là những nơi vua Hàm Nghi đã ở lại trước khi bị bắt.
15. Phụ chánh Tôn Thất Thuyết đã để vua ở lại Hà Tĩnh, còn mình đi Quảng Châu cùng Đề đốc Lê Trực, Phạm Tuân cầu viện Trung Hoa.
16.  Suất đội Nguyễn Đình Tín dụ được Trương Quang Ngọc đầu thú, rồi dẫn Pháp đến vây bắt vua Hàm Nghi khuya 26 tháng 9  Mậu Tý (1888).
17.  Khi bị bắt, nhà vua bình thản chỉ mặt Ngọc quát “Thà mi giết ta đi còn hơn mang ta ra nộp cho Tây.”
18.  Con trai của ông Thuyết, Tôn Thất Thiệp, lúc ấy đang hộ vệ nhà vua bị đâm chết. Tôn Thất Đạm nghe tin cũng treo cổ tự ải.
19.  Khâm sứ Rheinart báo cho vua biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt.  Vua Hàm Nghi đáp, “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ anh em nữa.”
20.  Dù vua Hàm Nghi làm ngơ, giả như là không phải là vua khiến giặc Pháp hoài nghi không biết có phải bắt nhầm người hay không. Tuy vậy, khi thấy thầy giáo cũ là Nguyễn Nhuận đến xem, Ngài đứng dậy vái chào khiến đã lộ ra chân tướng.
21.  Pháp bố trí nhà vua ở tại biệt thự Ngàn Thông (Villa des Pins) trong thủ đô Alger, sau nhà vua cải tên thành biệt thự Gia Long.
22.  “Chiều tà” là một bức tranh nổi tiếng của vua Hàm Nghi. Ngài có thiên khiếu về mỹ thuật, điêu khắc và đã vẽ nhiều bức tranh rất đẹp theo trường phái Gauguin. Hàm ý của bức tranh “Chiều tà” có lẽ là cuộc đời êm ả về chiều của một kiếp người bất hạnh chăng?
23.  Ở Algérie, nhà vua luôn mặc y phục Việt (áo dài đen, khăn bịt đầu), tóc búi tó, ăn cơm Việt. Dân bản xứ gọi Ngài là ông Hoàng An Nam (Prince d’Annam). Ngài luôn luôn giữ tư cách một nhà vua yêu nước và bất khuất nên chính quyền thực dân Pháp tại Alger tỏ ra rất kính trọng Ngài.
24.  Nhà vua lấy vợ người Pháp là bà Marcelle Aimée Léonie Laloe và có 3 người con: 02 gái và 01 trai. Đó là công chúa Như Mai, công chúa Như Lý và hoàng tử Minh Đức.
25. Nhà vua cho xây Gia Long các 2 tầng, có bộ mái tựa như Phu Văn lâu để thờ vua Gia Long và liệt tổ liệt tông. Ngài tổ chức cúng bái tổ tiên hàng năm tại đây.
26.  Trên mộ Ngài có ghi 1871 – 1944, tức nhà vua thọ 74 tuổi ta, và đã ở Algérie tổng cộng 56 năm (1888 - 1944)
27. Ghi âm từ Alger, thủ đô của Algérie.
28.  Tử Cấm thành.
29.  Nghĩa trang ở làng Thonac, Dordogne thuộc Pháp nơi hiện nay có mộ vua Hàm Nghi, được cải táng từ thủ đô Alger sang. Vợ con Ngài (ngoại trừ công chúa Như Lý) cũng chôn cất tại đây.

NGUUỒN : TRÍCH TÂM THÀNH LỄ BẠC CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN PHÚC VĨNH BA.

CHÂU ĐỐC - NÚI CẤM





                                    Cáp treo Núi CẤM  và phong cảnh bên dưới(ảnh của NMSL)




Núi Cấm (Cấm Sơn) còn được gọi là Núi Ông Cấm hay Thiên Cấm sơn, Thiên Cẩm Sơn (1); tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl; là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.
Núi Cấm có độ cao 705 m, chiếm chu vi 28.600 m,(2) là một ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn và cao nhất tỉnh. Núi nằm trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm TP Long Xuyên khoảng 90km theo Quốc lộ 91 rẽ qua tỉnh lộ 948, và cách thành phố Châu Đốc không xa.
  
  *Đường lên núi Cấm

Núi Cấm tức Cấm Sơn là tên gọi chính thức bằng văn tự đầu tiên xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí được biên soạn vào cuối thế kỷ 19. Sách đã miêu tả: ...thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt, là một trong Bảy Núi. Vì núi cao nên ít người lên đến chót.
Còn trước đó, theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ngọn núi này được gọi là núi Đoài Tốn. Và tác giả cho biết núi cao 50 trượng, chu vi 20 dặm dư hình như cai đài cao, nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ nên gọi là núi Đài Tốn...Núi cao đột ngột, sinh sản các loài trầm hương, tốc hương, súc sa, cây sao, giáng hương, thông tre. Cây cối tốt tươi có đường cong queo thông trong núi sâu, dấu người qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa có bến nước, kẻ cày cấy, người đánh cá chia từng loại ở nơi chân núi…(3)

 *Có nhiều giả thuyết về cái tên núi Cấm:

Theo GS. Nguyễn Văn Hầu (4), giả thuyết đáng tin cậy hơn cả là Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) đã cấm các tín đồ của mình lên đó cất nhà lập am, bởi sợ sẽ ô uế chốn núi thiêng.

Một giả thuyết khác, Nguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã, có lúc phải vào núi này nương thân. Muốn tông tích được giấu kín, các cận thần phao tin có ác thú, yêu quái, để cấm dân chúng vào núi.

Cũng có người cho rằng tướng cướp Đơn Hùng Tín (biệt danh của Lê Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt. Sợ lộ, Tín cấm dân lên núi. Bàn về chuyện này, Nguyễn Văn Hầu viết: Có người lại nói rằng sở dĩ tên núi Cấm được đặt ra là vì vùng núi này cao nhất, cây cối mọc tràn lan dày bịt, đá nằm ngang dọc gồ ghề, khi trước không thấy khoảng trống, chẳng có đường mòn, khó cho nhà chức trách đến mà khám xét được. Cảnh hoang vu tịch mịch đó rất thuận tiện cho những tay "Lương Sơn Bạc" tụ tập để gây rối cho xóm làng và các vùng phụ cận. Muốn giữ sự yên tịnh cho dân tình, nhà chức trách ở tỉnh đương thời mới đem ra lịnh cấm họ ở trong vùng này. Còn cái thuyết nói tướng cướp Đơn Hùng Tín - bị Sở Mật Thám Mỹ Tho hạ sát năm 1926 - cấm dân gian bén mảng đến vùng núi này, nơi hùng cứ của y, chắc là không đúng. (5)

*Năm Vồ


Vồ ở đây là từ dùng để chỉ một chỏm cao trên dãy núi. Theo GS. Nguyễn Văn Hầu, năm non trên núi Cấm bao gồm:

Vồ Bồ Hong: cao 705 m, cao nhất. Tương truyền, vì khi xưa có nhiều côn trùng gọilà bồ hong đến đây sinh sống nên có tên này. Ở trên vồ, có tượng thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, được nhiều người đến tham quan và lễ bái.
Vồ Đầu: đỉnh cao đầu tiên của Núi Cấm tính từ phía Bắc, cao 584 m.
Vồ Bà: cao 579 m, có điện thờ Bà Chúa Xứ.
Vồ Ông Bướm: (hay Ông Voi) cao 480 m tương truyền xưa kia có hai người Khmer lưu lạc tên ông Bướm và ông Vôi đến cư trú, nên mới có tên như thế.
Vồ Thiên Tuế: cao 541 m, nơi đây trước kia là rừng cây thiên tuế.
Thực tế, núi Cấm còn có nhiều vồ hơn nữa, như Vồ Chư Thần, Vồ Cây Quế, Vồ Mồ Côi, Vồ Đá Dựng, Vồ Pháo Binh v.v... Nhưng người ta thường chỉ nói năm non, bảy núi. Những con số bất dịch này, chắc do sự tác động của những quan niệm thần bí, siêu nhiên trong dân gian...

 *Danh thắng

Từ trên đỉnh núi Cấm nhìn xuống khu vực hồ Thủy Liêm
Núi Cấm nơi du lịch nổi tiếng ở Châu Đốc, vì núi có dáng vẻ hùng vĩ, khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp và cây cối luôn xanh tươi. Trên núi có các danh lam và danh thắng, như: Chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc, hồ Thủy Liêm, v.v...

Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan như: suối Thanh Long  ( 6), suối Tiên, điện Cây Quế, điện Mười Ba, điện Tam Thanh, điện Huỳnh Long, hang Ông Thẻ, hang Ông Hổ, hang Bác Vật Lang, động Thủy Liêm. Dưới chân núi Cấm, về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên, với diện tích khoảng 100 ha, có cảnh quan đẹp, có đường tráng bê tông khá rộng lên đến đỉnh.

 
Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hương, cây trái... núi Cấm còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, như đá xây dựng, cát núi, đất sét cao-lanh và nước khoáng thiên nhiên..
.
( Nguồn Wikipedia)


Chú Thích
1- Với nghĩa núi đẹp như gấm lụa
2-Theo Địa chí An Giang (tập I), Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ấn hành, 2003, tr.107. Độ cao này, các nguồn ghi không thống nhất, có người cho rằng từ chân núi lên tới vồ Bồ Hông, nơi được mệnh danh là nóc nhà của đồng bằng sông Cửu Long, cao 716 mét hoặc 710 mét.
3- Theo Huỳnh Ngọc Trảng
4.-Nguyễn Văn Hầu, Nữa tháng trong miền Thất Sơn, NXB Trẻ, 1996.
5- Chép theo [1].
6-Suối Thanh Long (còn gọi là suối An Hảo) dài 4,25 km. Theo sách Kỷ lục An Giang 2009, thì đây chính là "dòng suối dài nhất của tỉnh" (nhà xuất bản Thông Tấn, 2010, tr. 30).
7- Tượng Di Lặc chiều cao tính từ dưới chân đế đến đỉnh đầu. Tất cả nặng gần 1.700 tấn bê tông, cốt thép. Thời gian thi công từ tháng 2 năm 2004 đến tháng 12 năm 2005. Hiện các hạng mục ở bên trong pho tượng vẫn còn đang được tiếp tục. Ở thời điểm năm 2013, thì đây là "tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi lớn nhất Việt Nam và Châu Á" (nguồn: Kỷ lục An Giang, Nxb Thông Tấn, 2010, tr. 99, và [2]).
8- Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cao 26,5 m bằng bê tông, cốt thép, tọa lạc tại ấp Thiên Tuế, trên đỉnh núi Cấm vừa hoàn thành giai đoạn I vào giữa năm 2013. Nguồn: Đài phát thanh và truyền hình An Giang, truy cập ngày 14/09/2013



         (Ảnh  trên net)

 
            Không quá đông người cúng kiếng , lễ bái như ở Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, khu du lịch núi Cấm yên tĩnh và quang đảng, sạch sẽ Khi chúng tôi đến thì hệ thống cáp treo mới đưa vào hoạt động khoảng 10 ngày còn thưa thớt khách sử dụng có lẻ vì giá cả đắt  và ít khách tham quan ( nghe một người bạn ở địa phương nói giá cáp treo đắc gấp 3 lần so với di chuyển bằng đường xe lên núi nên một số khách vẫn đi đường xe)Tuy núi Cấm là một ngọn núi cao nhưng đường cáp có độ lài rất êm (không dựt thẳng đứng như cáp lên núi Tà Cú Phan Thiết) , nhìn xuống phía dưới núi khu vực dân cư sinh sống trồng tỉa khá nhiều , phong cảnh cây cối tốt tươi, đường xá đầy đủ Càng lên cao không khí mát mẻ và trong lành , các công trình xây dựng đang còn tiếp diễn nhưng trên núi có tượng Phật Di Lặc rất lớn , chùa  Phật Lớn, chùaVạn Linh uy nghi  to lớn Núi Cấm là địa điểm du lịch lý tưởng còn là vùng đất tín ngưỡng ,tâm linh .Tiếng chuông thong thả giữa cảnh chiều trong không khí yên lành , thanh tịnh khiến du khách cảm thấy tâm hồn thanh thản như lâng lâng thoát tục…



ẢNH CỦA NM







                                                                  Hồ Thủy Liêm trong bóng chiều

                                                       
                                                          Tượng Phật Di Lặc trên Núi Cấm    
                                           

                                                   Dưới chân tượng Phật Di Lặc

                                                                     CHÙA VẠN LINH
       



ẢNH CHỤP NĂM 2016 KHI TRỞ LẠI NÚI CẤM
(Cảm ơn bạn Mai Trang Huỳnh đã hướng dẫn NM và 2 cháu bằng đường xe lên đỉnh núi )







Trường học trên núi

Nhà hàng  trên núi



Hoa Phát Tài trên núi

Đường trên núi

Từ trên vồ Bồ Hong( cao  nhứt núi Cấm ), phía xa là đất Campuchia




Hồ Thủy Liêm chụp từ Vồ Bồ Hong


khu resort ở núi Cấm