CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

HẠNH PHÚC THƠ NHÃ MY , NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN









HẠNH PHÚC

THƠ NHÃ MY
NHẠC , HÒA ÂM & TRÌNH BÀY NGUYỄN HỮU TÂN
VIDEOCLIP  HUỲNH TÂM HOÀI


NM CHÂN THÀNH CẢM ƠN NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU TÂN VÀ ANH HUỲNH TẬM HÒA ĐÃ TẶNG MỘT CA KHÚC HAY.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

ĐỌC “BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ” THƠ THÍCH TÍN THUẬN - CHÂU THẠCH

 van tran
Tệp đính kèm
20:49, Th 4, 9 thg 9 (23 giờ trước)
tới






(Ảnh Thích Tín Thuận và Châu Thạch)





ĐỌC “BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ” THƠ THÍCH TÍN THUẬN 

                                                   Châu Thạch 



BỮA CƠM GIỮA CHÙA QUÊ 

Hè nắng đổ sân chùa như rực lửa 
Bảng hổi lên hiệu báo bữa cơm thường 
Những não phiền bao hệ phược vấn vương 
Tạm ngưng nghỉ để nhường đường trai ngọ 

Cơm một bát tròn xoe in để đó 
Dĩa muống rau mềm mại ngó mà vui 
Miếng đậu tương trắng toát thiệt rõ bùi 
Canh bí đỏ thêm lạc vùi thơm tháp 

Nâng ngang trán một lòng y như pháp 
Ngọt đắng cay chua mặn nhạt cúng dường 
Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường 
Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến 

Búp sen mở cánh xòe trên bảo điện 
Nỗi buồn lo vừa đổi chuyển lạc an 
Sáu căn trần dạ chẳng buộc duyên phan 
Cùng sáu thức quẳng mơ màng trôi nổi 

Cơm một bát đủ ấm lòng ba buổi 
Kinh vẹn thì lục khắc với năm canh 
Nguyện một lòng soi rọi giúp quần sanh 
Thuyền Bát nhã đáp vương thành tịnh thổ 

Trưa hè nắng nhưng mồ hôi chẳng đổ 
Bát cơm lành trưa đúng ngọ cùng dâng…/. 

                                02.06.2016 



Cảm nhân của: Châu Thạch 

     Nhà sư Thích Tín Thuận, chùa Chính Phước, Hải Lăng, Quảng Trị, là một một nhà thơ Phật Giáo mà tôi ái mộ. Tôi có duyên cùng với nhà thơ Trần Văn Hạng (ĐồngHà) được thăm thầy một lần. Trưa hôm đó, hai chúng tôi được thầy chiêu đãi bữa cơm chay. Bữa cơm mời đột xuất cho nên rất thanh đạm nhưng tôi lại nhớ mãi. Thú thật, trong đời tôi, lần đâu tiên được ăn bữa cơm “thanh tịnh” như thế, thanh tịnh vì chùa yên lặng mà trong lòng tôi cũng bình tịnh, an vui, thoát tục. 

     Trưa hôm nay mở trang web Hai Bờ Giấy, tôi lại đọc được bài thơ “Bữa Cơm Giữa Chùa Quê” của thầy làm tôi sống lại một giờ năm ấy, trong ngôi chùa quê ấy, với bữa cơm nhà Phật cho tôi cảm thụ điều thú vị khác lạ mà tôi khó tìm được trong đời. 

     Bài thơ của thầy rất rõ ràng, không có ẩn dụ gì, không có từ ngữ khó hiểu như thơ của các nhà sư hay các cư sĩ thường làm. Tuy thế trong thơ thầy, ẩn chứa một thứ hương thiền nhẹ nhàng, khiến khi đọc, tâm hồn ta tự nhiên thanh thản, trút hết “Những não phiền bao hệ phược vấn vương” như một câu thơ trong khổ thơ đầu sau đây: 


                     Hè nắng đổ sân chùa như rực lửa 
                     Bảng hổi lên hiệu báo bữa cơm thường 
                    Những não phiền bao hệ phược vấn vương 
                   Tạm ngưng nghỉ để nhường đường trai ngọ 


     “Trai ngọ” là gì? Đó là bữa ăn trưa của các vị tu hành. Bữa ăn trưa của quý thầy thường được gọi là “Thọ trai”. Thọ là thọ dụng, là nhận, ăn hay dùng…. Trai là đời sống thanh tịnh, thiền định và trí huệ. Thọ trai là thọ dụng thức ăn nuôi sống thân tâm bằng đời sống thanh tịnh, phẩm hạnh, giới đức, thiền định và trí hụê.” 

     “Ngày Phật còn tại thế, phần lớn quần chúng theo Bà La Môn và tu Tứ Thiền Bát Định, nhiều vị tu hành chỉ chăm chú vào thiền định mà lại không coi trọng ý nghĩa Giải Thoát. Có người thì ngồi thiền định mãi chẳng ăn uống rồi bỏ thân, có vị thì mê say trong lạc thú của thiền định an vui cho tự thân, chẳng gieo duyên giáo hóa; có vị thì ăn uống phi thời trở thành phóng dật, chẳng giữ oai nghi… Vì thế, Phật từ bi chế Giới Ngọ Trai. 

     Ngọ Trai có hai phần là thọ thức ăn và giữ ngọ trai (ăn đúng giờ Ngọ)” 

     Khổ thơ trên cho ta biết rằng các nhà sư không phải như ta, được gọi thì ngồi vào ăn bất cứ lúc nào mà ngược lại, họ phải ăn vào giờ ngọ tức khoản từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều. Khi được báo ăn, việc làm đầu tiên của họ là “Những não phiền bao hệ phược vấn vương/Tạm ngưng nghĩ để nhường đường trai ngọ”. 

     Dầu người Phật tử hay người không Phật tử, tôi nghĩ nếu cũng buông bỏ được như quý thầy trước phút ngồi vào bàn ăn thì thức ăn sẽ thấy ngon hơn, tiêu hóa sẽ tốt hơn và tất nhiên niềm vui sẽ len vào ngự trị tâm hồn ta lúc đó. 

     Bây giờ xin hãy nhìn vào bữa ăn của tu sĩ được mô tả sau đây: 

                     Cơm một bát tròn xoe in để đó 
                     Dĩa muống rau mềm mại ngó mà vui 
                    Miếng đậu tương trắng toát thiệt rõ bùi 
                    Canh bí đỏ thêm lạc vùi thơm tháp 


     Đúng như vậy, bữa ăn mà thầy Thích Tín Thuân mời chúng tôi tại chùa Chính Phước năm nọ cũng tương tự thế. Tôi còn nhớ có một món rất đặc biệt: Bẹ môn dầm muối (dưa môn) chấm nước tương. Chúng tôi ăn hoài ăn mãi, đến nay nhớ lại thì thèm. Những món ăn này không phải ngoài đời không có, nhưng sao ăn trong chùa nó trở nên rất ngon. Có lẽ nhà chùa biết dầm muối đúng cách là một, cái ngon tâm lý trong lòng mình là hai, cọng cả hai cái lại làm cho bữa ăn thành ra rất tuyệt. Chỉ thiếu một điều là thầy thì “thọ trai” còn chúng tôi là “ăn trưa”. Tuy thế, nhờ vậy tôi cũng hiểu được một chút hương vị của buổi “thọ trai” như thế nào. Tôi nghĩ, buổi trưa hôm ấy, nếu tôi mà cũng “Trai Ngọ” được như thầy chì chắc trong bữa ăn, tâm thần tôi sẽ an vui hơn nữa, linh hồn tôi sẽ nhẹ như một tờ giấy trắng. 


     Khổ thơ thứ ba cho ta biết bữa ăn của người tu hành còn nhiều thủ tục phiền phức khác ta rất nhiều : 

                 Nâng ngang trán một lòng y như pháp 
                 Ngọt đắng cay chua mặn nhạt cúng dường 
                 Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường 
                Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến 


     “Nâng ngang trán một lòng y như pháp” nghĩa là ngoài những thủ tục mà người tu hành làm trong bữa ăn thì tâm thần phải giữ cho bửa ăn phải là “Bữa cơm chánh niệm” đúng như trong Phật pháp đã dạy. Bữa cơm chánh niệm đó, thầy, tác giả bài thơ đã giãi thích một phần nào trong hai câu thơ cuối của khổ thơ nầy và cả khổ thơ sau: 


                  Rõ trần ai khổ vô ngã vô thường 
                 Trang huyễn mộng chỉ trò thương hải biến 
                Búp sen mở cánh xòe trên bảo điện 
                Nỗi buồn lo vừa đổi chuyển lạc an 
                Sáu căn trần dạ chẳng buộc duyên phan 
               Cùng sáu thức quẳng mơ màng trôi nổi 

     Trước khi hiểu ý nghĩa của những câu thơ trên đây, ta phải tìm hiểu ý nghĩa của “sáu căn trần” và “sáu thức” mà tác giả đã đề cập đên trong khổ thơ trên. 

     “Trong 49 năm hành đạo, đức Phật luôn chỉ dạy chúng sinh phải giữ tâm mình cho được thanh tịnh và loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, là cội nguồn của tham, sân, si. Chính nó là đại lộ kinh hoàng đưa chúng ta vào đường ác nghiệp và mãi mãi trầm luân trong lục đạo luân hồi. Cái gốc của vọng tưởng điên đảo là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh ra sáu thức. Tất cả những chủng tử nghiệp cộng với biết bao nhân duyên đều được xuất phát từ đây. “ 

     Vậy sáu căn là gi? 

     “Lục căn là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nảy nở, tạo thành, bao gồm: 


1. Nhãn là mắt, dùng để nhìn. 
2. Nhĩ là tai, dùng để nghe. 
3. Tỷ là mũi, dùng để ngửi. 
4. Thiệt là lưỡi, dùng để nếm. 
5. Thân là thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh... 
6. Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt.” 

     Sáu căn là như vậy còn “Sáu căn trần” trong câu thơ là gì? 

     “Xung quanh chúng ta có biết bao hiện tượng, vật thể biến đổi không ngừng, chi phối từ tư tưởng đến hành động chúng ta từng giây từng phút, được gọi là “trần”. Như thế, trần có nghĩa là bụi, luôn luôn đổi dời. Trần ở đây cũng còn có nghĩa là phần vật chất, hay những cảnh vật xung quanh con người. Có 6 trần (lục trần): 

1. Sắc là màu sắc, hình dáng. 
2. Thanh là âm thanh phát ra. 
3. Hương là mùi hương. 
4. Vị là chất vị do lưỡi nếm được. 
5. Xúc là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh. 
6. Pháp là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên. 

     Bây giờ sáu thức là gì? 

     “Khi Lục căn tiếp xúc với Lục trần, có nghĩa là: mắt thấy được hình ảnh nào, mũi ngửi được mùi thơm nào đó, lưỡi nếm được chất chua, cay hay ngọt, tai nghe được điệu nhạc êm đềm, thân thì cảm thấy đau đớn, hay lạnh lẽo, còn ý thì bắt đầu suy nghĩ, thì ký ức của chúng ta phát sinh ra sự phân biệt. Và chính sự phân biệt, hiểu biết và phán đoánnày được gọi là thức. Cũng như Lục căn, thức cũng có 6 thức nên thường được gọi là Lục thức. Do đó Lục thức gồm có: Nhản thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.” 

     Hiểu được căn, trần và thức thì ta hiểu được ý nghĩa thơ của tác giả trong bữa trai ngọ hay là một bữa ăn chánh niệm. Trong bữa ăn chánh niệm đó, người tu sĩ phải quán rõ sự vô ngã vô thường, sự huyễn mộng của kiếp sống, phải tách lìa sáu căn, quẳng đi sự mơ màng của sáu thức để cho tâm thần trở nên an lạc. 

     Trong phần thơ còn lại, tác giả thỏa lòng với những bữa ăn trong cuộc đời tu hành của mình, nhà thơ nguyện với lòng sống vì đạo pháp để giãi cướu chúng sinh, đưa họ lên thuyền Bát nhã để về cõi Phật nơi tây phương tịnh độ: 


                  Cơm một bát đủ ấm lòng ba buổi 
                 Kinh vẹn thì lục khắc với năm canh 
                 Nguyện một lòng soi rọi giúp quần sanh 
                Thuyền Bát nhã đáp vương thành tịnh thổ 

                Trưa hè nắng nhưng mồ hôi chẳng đổ 
                Bát cơm lành trưa đúng ngọ cùng dâng… 

     “Thuyền Bát Nhã là chiếc thuyền Trí huệ do pháp nhiệm của Phật tạo nên để rước các chơn hồn đắc đạo lên cõi cực lạc. 

Thuyền Bát Nhã là từ ngữ để nói ví dụ so sánh. Con người sống trong cõi trần đầy ô trược nên bị tấm màn vô minh che lấp, để cho lục dục thất tình cám dỗ khiến sai. Chừng nào phá bỏ được tấm màn vô minh ấy thì vượt lên khỏi sự cám dỗ của lục dục thất tình, trở lại làm chủ chúng nó, lúc đó con người hết vô minh, tức nhiên đạt được Trí huệ, và cái Trí huệ ấy ví như chiếc Thuyền Bát Nhã, đưa con người đến cõi Cực Lạc Niết Bàn, đắc đạo thành Tiên Phật.”

     Người viết bài này, vì cảm động trước bài thơ nhẹ nhàng mà uyên thâm, thanh bai mà sâu nhiệm, lại nhớ đến bữa ăn mà mình từng được thụ lảnh, nên tra cứu sách vở để hiểu thêm bài thơ mà viết cảm nhận của mình, hầu cho những ai có đồng tâm tình thì thưởng thức nó. Những gì người viết tra cứu được để viết, đều đóng trong ngoặc kép. Kính mong qúy vị lượng thứ trước những điều sai trật ./. 

                           CHÂU THẠCH 




Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 1) - NGUYÊN LẠC




Dien Dan Giao Dan




TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 1)



Lời nói đầu:
Cụ Nguyễn Hiến Lê,  thầy tôi, có nói: "Muốn học điều gì thì hãy viết về điều đó". Tôi đã áp dụng câu này khi học về Kinh Dịch, thấy rất có hiệu quả. Nay tôi đang học về thú uống trà, tìm hiểu về trà,  tôi cũng sẽ áp dụng điều cụ Nguyễn dạy.
Như thông lệ, tôi tìm hiểu sách vở, bài viết của tiền nhân, của các đàn anh thâm sâu về điều mình cần học, ghi lại có hệ thống cho dễ dàng nhớ. Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh chỉ dẫn thêm. Tôi mạo muội chia sẻ những điều tôi đã ghi chép, gởi đến các bạn rồi lắng nghe những lời phản hồi,  góp ý chân thành để chỉnh sửa cho điều mình tìm học được chính xác. 
Tập tiểu luận này nặng về VĂN CHƯƠNG hơn NGHIÊN CỨU, chủ ý của tác giả là muốn cung cấp các bạn những điều "vui vẻ" trong lúc "trà dư tửu hậu". Nếu các bạn muốn nghiên cứu sâu, xin hãy tìm hiểu các tác phẩm của các nhà nghiên cứu mà tôi đã sưu tầm, tham khảo. Đó là: Trà Đạo của tác giả Kakuzo Okakura, Niệm Thư của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Trà Luận của nhà nghiên cứu Đức Chính, Trà kinh của Vũ Thế Ngọc, các bài viết của Nguyễn Duy Chính và trên FB  .v.v...

Nếu độc giả tìm thấy được nhiều đều lý thú trong tập tiểu luận này, thì đó là công của các nhà nghiên cứu mà tác giả sưu tầm; còn nếu thấy nó dở, đầy khiếm khuyết, thì đó là lỗi của tác giả bài viết, hiểu biết còn quá nhiều hạn hẹp, xin tha lỗi cho. Trân trọng
.
MỤC LỤC

Tiểu luận này được chia làm nhiều mục:
- Giới thiệu
- Vài bài văn thơ về trà
- Lịch sử, nguồn gốc phát triển và con đường đi của trà
- Sơ lược Trà Kinh của Lục Vũ
- Các hình thức trà
- Các loại trà, danh trà
- Cách trồng và chế biến trà
- Dụng cụ uống trà
- Các loại ấm trà danh tiếng
- Các loại chén uống trà
- Cách thức pha trà, thưởng thức trà
- Sơ lược về Trà Đạo Nhật Bản
- Phần phụ lục- Phiếm luận

*
Giới thiệu:
Ông bà ta có câu “Khách đến nhà không trà thì rượu”. Với nhiều người, uống trà không chỉ đơn thuần là giải khát, mà còn là thú vui tao nhã thưởng thức hương vị thơm, ngọt, chát, nồng của " Dịch thể ngạnh ngọc bào" - bọt của chất lỏng màu ngọc bích (Tên người xưa gọi nước trà). Trà, rượu và cà-phê là 3 thức uống hầu như hiện nay ai cũng yêu thích. Đối với cụ Trần Thế Xương thì : "Một trà, một rượu, một đàn bà/ Ba cái lăng nhăng nó khuấy ta". Về "yêu trà", tôi xin dẫn ra đây vài lời của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, trong chương sách Nghệ Thuật Yêu Trà của bà, đại khái: 
   - "Yêu là cả một nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng, và sự hướng dẫn chu đáo. Muốn yêu ai thì cần phải tìm hiểu tính tình, biết cả từ tính tốt đến tính xấu, những ưu khuyết điểm, xét xem có thích hợp với mình không. Khi đã biết rõ rồi mới yêu thì tình mới bền. Trà cũng như người, cổ nhân gọi trà là Tình Nhân, và ngày xưa cũng như bây giờ có những người yêu trà, chờ đợi giờ phút được ngồi cạnh ấm trà như chờ đợi giờ phút hò hẹn với người yêu"- (Minh Đức Hoài Trinh)
Ngồi cạnh ấm trà một mình vào buổi sáng tinh sương hay với tri kỷ trong đêm khuya, thì không cần phải dùng đến lời nói; đọc cho nhau nghe một câu thơ, hay mỗi người nói một mẩu chuyện rồi thả tâm tư suy nghĩ; chẳng cần bàn cãi nhiều lời, khói trà và hương trà sẽ đưa hai tâm tư đến cùng một điểm. Hai người tri âm tri kỷ đã trở thành một.
Chúng ta hãy cùng nhau nhắp một chén trà. Ánh sáng xế trưa đương chiếu vào bụi trúc, dòng suối đương róc rách vui tai, và tiếng ngàn thông đương rì rào trong ấm trà của chúng ta. Hãy thả hồn mơ vào chỗ vô thường, tha thẩn trong cái vẻ cuồng dại mỹ miều của vạn vật.
Lý Chi Lai, (Lichilai) một kẻ yêu trà,  một thi sĩ đời Tống đã cho rằng, đời có 3 mối hận nhất là : "Những thanh niên ưu tú bị hư hỏng vì một chế độ giáo dục sai lầm; những bức danh họa bị mất giá trị vì những kẻ phàm phu tục tử tán thưởng; và những cánh trà ngon bị hao phí quá nhiều vì những bàn tay bất tài vầy vò".
Trà không có cái tính chất tự tôn xằng như của rượu, tự ý thức như của cà phê, hay ngây thơ khờ khạo như của ca cao - (Bảo Sơn – Trà Đạo, dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)
.
VÀI BÀI VĂN THƠ VỀ TRÀ
.
Ghi theo trình tự trước sau:
 1. Thi nhân đời Đường , Lô Đồng - hay Lư Đồng ( 778 - 835 ) có bài thơ tả cảm giác khi uống trà được người đời khen xuất thần: Trà Ca  
.
Nhất oản hầu vẫn nhuận
Nhị oản phá cô muộn
Tam oản sưu khô trường
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển
Tứ oản phát khinh hãn
Bình sinh bất bình sự
Tận hướng mao khổng tán
Ngũ oản cơ cốt thanh
Lục oản thông tiên linh
Thất oản khiết bất đắc
Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh

Lời dịch:

Chén thứ nhất làm trơn cổ họng
Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền
Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo
Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách
Chén thứ tư làm mồ hôi rướm ra
Những chuyện bất bình trong đời
Cũng theo lỗ chân lông mà bay đi
Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ
Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên
Chén thứ bảy không uống được nữa
Chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi
.
2. Cụ Trần Tế Xương đã từng có bài thơ thở than: 
.
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái nào hay cái nấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà..." 
.
3. Nhà văn Nguyễn Tuân có truyện ngắn lý thú viết về trà “Những Chiếc  ́m Đất” - trong quyển Vang Bóng Một Thời. Xin trích vài đoạn:

- "Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Hắn toàn vào xin những nhà đại gia thôi và cố làm thế nào cho giáp được mặt chủ nhân rồi có xin gì thì hắn mới xin. Có một lần hắn gõ gậy vào đến lớp giữa một nhà phú hộ kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm. Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem tên ăn mày định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm thừa hay là canh cặn, hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn. Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho hắn "uống trà tàu với!". Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng tại sao không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, giở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định đùa định xược với bọn họ đến lúc nào mới chịu thôi. Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà: "Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa được lấy gì làm khoái hoạt lắm". Hắn lạy tạ, tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái lạy chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đường. Mọi người cho là một thằng điên không để ý đến. Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày vì, ở lọ trà đánh đổ vung vãi ở mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu".
Ông cụ Sáu nghe khách kể đến đấy, thích quá, vỗ đùi mình, vỗ đùi khách, kêu to lên:
- Giá cái lão ăn mày ấy sinh vào thời này, thì tôi dám mời anh ta đến ở luôn với tôi để sớm tối có nhau mà thưởng thức trà ngon. Nhà, phần nhiều lại toàn là ấm song ấm quý.
- Cổ nhân cũng bịa ra một chuyện cổ tích thế để làm vui thêm cái việc uống một tuần nước đấy thôi. Chứ cụ tính làm gì ra những thứ người lạ ấy. Ta chỉ nên cho nó là một câu giai thoại.
- Không, có thể như thế được lắm mà. Tôi chắc cái lão ăn mày này đã tiêu cả một cái sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên hắn mới sành thế và mới đến nỗi cầm bị gậy. Chắc những thứ trà Bạch Mao Hầu và trà Trảm Mã hắn cũng đã uống rồi đấy ông khách ạ. Nhưng mà, ông khách này, chúng ta phải uống một ấm trà thứ hai nữa chứ. Chẳng nhẽ nghe một câu chuyện thú như thế mà chỉ uống với nhau có một ấm thôi.
- Thế rồi trong khi cụ Sáu tháo bã trà vào cái bát thải rộng miệng vẽ Liễu Mã, ông khách nâng cái ấm quần ẩm lên, ngắm nghía mãi và khen:
- Cái ấm của cụ quý lắm đấy. Thực là ấm Thế Đức màu gan gà. "Thứ nhất Thế Đức gan gà; - thứ nhì Lưu Bội; - thứ ba Mạnh Thần". Cái Thế Đức của cụ, cao nhiều lắm rồi. Cái Mạnh Thần song ẩm của tôi ở nhà, mới dùng nên cũng chưa có cao mấy.
Cụ Sáu vội đổ hết nước sôi vào ấm chuyên, giơ cái ấm đồng cò bay vào sát mặt khách:
- Ông khách có trông rõ mấy cái mấu sùi sùi ở trong lòng ấm đồng không? Tàu, họ gọi là kim hỏa. Có kim hỏa thì nước mau sủi lắm. Đủ năm cái kim hỏa đấy.
- Thế cụ có phân biệt thế nào là nước sôi già và nước mới sủi không?
- Lại "ngư nhãn, giải nhãn" chứ gì. Cứ nhìn tăm nước to bằng cái mắt cua thì là sủi vừa, và khi mà tăm nước to bằng mắt cá thì là nước sôi già chứ gì nữa". 
(Những Chiếc  ́m Đất trong Vang Bóng Một Thời - Nguyễn Tuân)
……......
Ngày xưa người ta lắng đọng tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun nên tinh tế phân biệt ba loại nước sôi: độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa); cuối cùng là nước sôi to. (Chú thích của Nguyên Lạc trích  từ Trà Kinh Lục Vũ)
.
4. Cái thú trong khi chờ đợi 
Uống trà, cái thú không phải chỉ lúc uống mà cả khi trong lúc đợi chờ. Mời bạn đọc những trích đoạn này:

- "Rồi người khách khom người chui qua cánh cửa nhỏ cao không quá ba bộ để vào gian phòng. Bất cứ khách nào, quyền quý hay thấp hèn, cũng đều như vậy cả nhằm ý nói với khách về đức tính khiêm hạ. Khách theo thứ tự trước sau chờ nơi trì hợp (machiai), từng người một khe khẽ bước vào nơi ấy, nghiêng đầu chào bức họa hay bình hoa cắm đặt nơi sàng gian (tokonoma), rồi vào chỗ ngồi của mình không gây một tiếng động, Khi tất cả khách mời đều an tọa và một sự tĩnh lặng thật sư ngự trị, ngoại trừ tiếng nước reo trong ấm sắt, chủ nhân mới bước vào phòng. Những miếng sắt xếp khéo léo dưới đáy ấm reo lên nghe rõ theo một giai điệu lạ kỳ tuồng như tiếng vọng của thác nước bị mây che khuất, nghe như tiếng biển nơi xa xăm dập dồn vỗ vào vách đá, tiếng phong ba quét rít qua các bụi tre rừng, hay tiếng thông reo trên ngọn đồi xa lắc"- (Trà Đạo - Bảo Sơn dịch từ cuốn The Book of Tea của Okakura Kakuzo)

- Trong truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một linh hồn và linh hồn đó hòa nhập vào người thưởng trà:
 “Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết một đời khoảng chất. Bây giờ hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp. Cụ  ́m vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. Cụ  ́m bỏ thêm một vài hòn than hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng để nhắc người ta nghĩ đến nó.”- (Chén trà trong sương sớm - Nguyễn Tuân) 
.
5. Các bài thơ gần đây về trà

- Thi sĩ Trần Phù Thế có bài thơ về trà:

Nhìn cốc trà bốc khói
Buổi sáng trời âm u
Cách ly, cách ly dịch
Một mình giỡn với thơ
.
Đưa cốc trà lên môi
Uống từng ngụm nho nhỏ
Nghe mùa thu than thở
Nghe mùa thu cựa mình

Hương trà như hương gái
Thơm thơm tuổi trăng rằm
Lòng ta như trẻ lại
Rộn ràng tuổi mười lăm

Nhâm nhi cốc trà sáng
Nghe lòng chút bình an ...
(Buổi sáng uống trà một mình - Trần Phù Thế)


-  Thi sĩ Võ Thạnh Văn có bài thơ về trà:

Trà Vũ Di - Ấm Nghi Hưng
Lò đun gỗ quế. Nước chưng suối dòng
Hồn Lục Vũ - Phách Lô Đồng
Má thơm hương sớm. Môi hồng nhụy khuya
(Xuân Trà Tụng - Võ Thạnh Văn)
.
-  Thi sĩ Trần Bảo Kim Thư có bài thơ về trà:

Mỗi sáng nhấp môi mấy tách trà
Hương thơm thoang thoảng quyện bay xa
Thái Nguyên, Bảo Lộc … mùi tinh khiết
Long Tỉnh, Quan  m … chất đậm đà
Cậu trẻ yêu đời luôn xoắn xuýt
Lão ông thích chí mãi khề kha
Sớm chiều đối ẩm cùng bè bạn
Rõ thú thanh nhàn đệ nhất đa!
(Trà - Trần Bảo Kim Thư)
.
-  Cảm xúc riêng của tác giả bài viết về trà:

a.
Thức dậy pha trà sáng nguyên xuân
Mời em, hãy cạn chén thơ anh!
Vị có ngọt ngào hay cay đắng
Vẫn chúc đời nhau vạn sự lành!
(Chén Trà Nguyên Xuân - Nguyên Lạc)

b.
Thiết quan âm, Trảm mã trà?
Hầu trà, Trinh nữ hay trà Kỳ Môn?
Sang hèn, danh lợi có không
Tri âm, tri kỷ chén lòng nhớ lâu
.
Mời người ta hãy cùng nhau
Chén trà nhân ái đẹp câu Đạo trà *
(Chén Trà Nhân Sinh- Nguyên Lạc)
............
 Trong các bài thơ trên:
- Lục Vũ , Lô Đồng là các Trà thánh, Trà thần của Trung Hoa
- Ấm Tử sa Nghi Hưng: Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là loại ấm trà/ trà hồ nổi tiếng của Trung Hoa
- Trảm mã trà, Hầu trà, Trinh nữ trà, Thiết Quan  m trà - một loại Ô long trà (trà Oolong), Trà Vũ Di, Kỳ Môn Hồng trà ... là những loại trà tàu có tiếng. Trà Thái Nguyên , Bảo Lộc là của Việt Nam.
- * Trà Đạo, tác giả Kakuzo Okakura (1862 - 1913), một nhà nghiên cứu về trà lừng danh của Nhật Bản. Ông  đã viết: “Trà Đạo là một tôn giáo lập ra để tôn sùng cái đẹp trong những công việc tầm thường của sinh hoạt hàng ngày. Nó là nghi thức của đức tinh khiết và sự hòa hợp; nó làm cho người ta cảm thấy sự huyền bí của lòng hổ tương nhân ái và ý nghĩa lãng mạn của trật tự xã hội”. Theo ông, triết lý của Trà Đạo không phải chỉ là một chủ nghĩa thẩm mỹ đơn giản theo ý nghĩa thông thường của nó, vì triết lý này cùng với luận lý và tôn giáo biểu thị tất cả quan niệm của chúng ta về con người và tạo hóa". 
Chúng ta sẽ gặp các điều kể trên lần lượt trong các phần sau.
.
(Còn tiếp nhiều kỳ)
.
NGUYÊN LẠC

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 67 : LƯU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC



Chieu Duc
19:13, Th 6, 11 thg 9 (12 giờ trước)


THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 67 :  

                                                 LƯU

                                 Inline image
                                      Nhớ xưa Dương Lễ Lưu Bình,
                                 Thi thư báu nước trâm anh dấu nhà.

        Đó là hai câu thơ mở đầu cho truyên thơ Nôm khuyết danh LƯU BÌNH DƯƠNG LỄ 劉平楊禮 sau khi đã giáo đầu bằng các câu cương thường về bằng hữu và vợ chồng. LƯU là họ Lưu, trong văn học cổ ngoài Lưu Bình của văn chương Việt Nam ra, người mà thường được nhắc tới nhất là tay bơm nhậu LƯU LINH đời Tấn. Theo tích sau đây :

                                   Inline image

      LƯU LINH 劉伶 (221-300), tự là Bá Luân, người đất Bái (tỉnh An Huy ngày nay), là một trong Trúc Lâm Thất Hiền, từng giữ chức Kiến Uy Tham Quân. Đời Tấn Võ Đế từng hiến kế sách theo Lão Trang "Vô Vi Nhi Trị 無為而治", nên bị bãi quan. Lưu Linh bình sinh thích uống rượu, từng sáng tác bài "Tửu Đức Tụng 酒德颂" để ca ngợi cái đức của những người uống rượu, cuộc sống phóng túng và xem thường Lễ Pháp của Nho gia. Lưu Linh nổi tiếng với với câu nói "Phụ nhân chi ngôn, thận bất khả thính 婦人之言,慎不可聽 !" Có nghĩa : Lời nói của đàn bà, phải nên cẩn thận mà đừnng vội nghe theo !. Truyện kể rằng một hôm, Lưu Linh ghiền rượu nên năn nỉ vợ mua rượu về cho mình uống. Bà vợ mới khóc và can rằng : Rượu rất có hại cho sức khỏe, chàng nên cai bỏ đi là hơn. Thấy vợ khóc can thảm thiết, Lưu Linh mới nói rằng : Tự mình ta không thể cai rượu được, thôi thì nàng giúp ta nấu một mâm cơm rượu để ta van vái thần linh giúp ta bỏ rượu là xong. Vợ nghe mừng quá, bèn nấu một mâm rượu thịt để cho Lưu Linh tế thần. Lưu Linh qùy trước thần linh khấn rằng : Trời sinh ra Lưu Linh là để uống rượu, mỗi lần uống ít nhất phải một đấu, uống đến 5 đấu mới hết bệnh ghiền. Lời nói của đàn bà, xin thần linh cẩn thận chớ vội tin !. Nói xong bèn bóc thịt mà ăn rồi cầm bình rượu lên tu một hơi. Bà vợ thở ra mà than rằng : Lại say xỉn nữa rồi !.

       Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều tả nàng cung nữ làm thơ giỏi hơn Lý Bạch, vẽ giỏi hơn Vương Duy, đánh cờ giỏi như Đế Thích và uống rượu thì giỏi như là Lưu Linh vậy :

                               Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
                         Nét đan thanh bậc chị chàng Vương.
                               Cờ tiên rượu thánh ai đang,
                          LƯU LINH Đế Thích là làng tri âm !

        Còn trong Lưu Bình Dương Lễ Tân Truyện thì Lưu Bình sau khi thi đậu cũng cưới được vợ giỏi :"Công danh đã nhẹ gót tiên, Thất gia lại gặp lương duyên Tấn Tần" và hai vợ chồng đều cùng làm thơ như Lý Bạch và uống rượu tựa như Lưu Linh :

                                   Khi thơ các, lúc rượu lầu,
                           Gieo vần Lý Bạch, giốc bầu LƯU LINH.
        
       LƯU TINH 流星 là sao sa, còn LƯU HỒNG 流虹 là Cầu vòng sa xuống. Theo Thượng Cổ Sử, bà mẹ Nữ Tiết 女節 thấy sao kết lại như cầu vòng sa xuống Hoa Chữ (bến Hoa), sau sinh ra Thiếu Hạo 少昊 là con út của Huỳnh Đế, nối ngôi xưng là Đế Chấp 帝挚. Nên trong văn học cổ mượn tích LƯU HỒNG để chỉ điềm sinh ra bậc đế vương. Trong Đại nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái nói về Lạc Long Quân như sau :

                               Bến Hoa ứng vẻ LƯU HỒNG,
                             Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì.

                      Inline image

       LƯU HỒNG là Cầu Vòng, còn LƯU TÔ 流蘇 là cái viền mùng, viền màn của các rèm cửa có tua đẹp đẽ, cũng thường dùng để trang trí cho các cờ xí lọng che... 
       Trong "Tứ Thời Thi" của Nữ sĩ Ngô Chi Lan thời Lê Mạc trịnh Nguyễn, bài Đông Từ có cặp luận như sau :

                    美人金帳掩流蘇,  Mỹ nhân kim trướng yễm LƯU TÔ,
                    紙護雲窗片片糊。  Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.
     Có nghĩa :
                      Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,
                      Bên song cản gió giấy thoa hồ. 

         Còn trong thơ truyện Nôm Quan Âm Thị Kính cũng có câu :

                               LƯU TÔ sương gió lọt vào,
                        Đem mâm mà chứa ngọc dao hẵn đầy.

         Nhắc đến LƯU thì cũng không thể thiếu thành ngữ LƯU THỦY CAO SƠN, Cao Sơn Lưu Thủy cũng thế. Đó là tên của các bản đàn nổi tiếng từ thời Chiến Quốc theo tích sau đây : Theo Chiến Quốc Sách Liệt Ngự Khấu Trứ 战国列御寇著 ghi về chuyện Bá Nha Tử Kỳ như sau :

        Du Bá Nha 俞伯牙 phụng mệnh vua Tấn đi sứ sang nước Sở. Đêm rằm tháng tám, thuyền vừa vào đến Hán Dương, gặp lúc mưa to gió lớn, nên ghé vào một mé núi nhỏ để tránh gió. Đêm xuống, gió lặng mây tan, vầng trăng rằm sáng vành vạnh trên sông nước, cảnh sắc thật hữu tình. Bá Nha bèn lấy cây dao cầm ra nắn nót phím dây và đàn một khúc. Đang lúc thả hồn vào cung đàn phím nhạc, mơ hồ như thấy có bóng người trên bến nên phân tâm, tay bấm mạnh vào phím đàn đánh "chát" một tiếng, đàn đứt mất một dây và tiếng đàn im bặt. Bỗng nghe tiếng người trên bờ nói vọng xuống rằng :" Xin tiên sinh chớ ngại, tôi là người đốn củi về muộn, đi đến đây nghe được tiếng đàn tuyệt diệu của tiên sinh, nên nán lại chưa nở rời đi ".     
     Nương theo bóng trăng, Bá Nha nhìn kỹ người trên bến, quả nhiên là một tiều phu với gánh củi còn để một bên, thầm nghĩ : Chỉ là một người đốn củi, làm sao nghe hiểu được tiếng đàn của ta chứ ?. Bèn cất tiếng hỏi rằng :" Các hạ nghe hiểu tiếng đàn của ta, thì có thể nói thử xem khi nảy ta đang đàn khúc gì ?". Người tiều phu bèn đáp rằng :" Thưa tiên sinh, lúc nảy ông đang đàn khúc Khổng Tử tán thán đệ tử Nhan Hồi. Rất tiếc là tiên sinh mới đàn đến câu thứ tư thì dây đàn bị đứt ".

                                     Inline image

     Nghe người tiều phu đối đáp trôi chảy, Bá Nha rất ngạc nhiên và cũng vô cùng mừng rỡ. Bèn mời tiều phu lên thuyền để đàm đạo , người tiều phu vừa trông thấy cây đàn của Bá Nha, bèn khen rằng :" Đây là cây dao cầm, tương truyền là của vua Phục Hi chế tạo ra ". Bèn kể lại lai lịch, quá trình chế tạo và xuất xứ của cây đàn. Bá Nha nghe xong càng khâm phục cho kiến thức của người tiều phu hơn. Đoạn mời người tiều phu nghe thêm vài khúc đàn nữa. Khi Bá Nha cất cao tiếng đàn lên thật hùng tráng, thì người tiều phu khen :" Vòi vọi thay núi cao hùng vĩ, chí tại CAO SƠN ". Khi Bá Nha hạ tiếng đàn xuống cho thanh thoát trôi chảy, thì tiều phu lại cất tiếng khen rằng :" cuồn cuộn thay như nước trường giang, ý tại LƯU THỦY ". 
      Bá Nha nghe xong rất lấy làm vui dạ, trước đây chưa từng có người hiểu được tâm sự của ông gởi gấm qua tiếng đàn, mà trước mắt, người tiều phu nầy lại làm được việc đó. Không ngờ ở chốn thâm sơn cùng cốc nầy lại có được một TRI ÂM (người hiểu được tiếng lòng của người khác qua âm nhạc) mà bấy lâu nay ông cố tìm vẫn không gặp được. Bèn đứng dậy thi lễ, rót chén rượu mời và cùng xưng tên họ với nhau. Thì ra người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ, làm nghề đốn củi độ nhựt. Hai người càng đàm đạo càng hợp ý hơn. Cuối cùng dưới vầng trăng thu sáng vằng vặc họ đã cùng nhau kết nghĩa đệ huynh. Bá Nha lớn hơn nên làm anh, hỏi Tử Kỳ rằng :" Với tài năng và học thức của hiền đệ sao không ra kiếm chút công danh mà lại cam nghề đốn củi ?" Tử Kỳ cho biết là vì mình còn phải phụng dưỡng cha già, nên mới ẩn nhẫn đợi thời. Vì công vụ chưa xong, nên Bá Nha không có thời gian lên bái kiến cha của Tử Kỳ. Trước khi chia tay, hai người bạn cùng hẹn nhau rằm Trung Thu sang năm sẽ lại gặp nhau trên bến sông nầy.   

                                     Inline image
   
    Trung Thu năm sau, Bá Nha y hẹn, ghé thuyền lại bến Hán Dương chờ bạn. Nhưng chờ hoài chờ mãi vẫn không thấy tăm hơi, bèn đem đàn ra mà đàn một bản, ý muốn kêu gọi bạn tri âm, nhưng tri âm vẫn bằng bặt bóng hình. Sáng hôm sau, Bá Nha lên bờ, lần mò vào thôn để hỏi thăm về tin tức của Tử Kỳ. Một ông già nghe hỏi, bèn khóc òa lên, cho biết mình chính là cha của Tử Kỳ đây. Sau Trung Thu năm rồi, Tử Kỳ đã nhuốm bệnh và qua đời, trước phút lâm chung, còn trối lại là hãy chôn mình ở bờ sông để Trung Thu năm tới còn nghe được tiếng đàn của Bá Nha như đã ước hẹn.
    Nghe lời nói của Chung Lão, Bá Nha đau buồn vô hạn, tìm đến bên mộ của Tử Kỳ, trịnh trọng đặt cây dao cầm trước mộ, rồi ngồi xếp bằng mà đàn lại khúc "CAO SƠN LƯU THỦY" năm xưa. Đàn xong bèn gạt đứt hết dây đàn, đứng dậy nâng cây dao cầm lên cao đập mạnh xuống tảng đá xanh trước mộ. Cây đàn " bùng " lên một tiếng bể tan tành ! Ba Nha bèn khóc mà ngâm rằng :

                      Inline image

              摔碎瑶琴鳳尾寒,  Suất toái dao cầm phụng vĩ hàn,
              子期不在向誰彈?  Tử Kỳ bất tại hướng thùy đàn ?
              春風满面皆朋友,  Xuân phong mãn diện giai bằng hữu,
              欲覓知音難上難。  Dục mịch TRI ÂM nan thượng nan !
  Có nghĩa :
                Dao cầm đập nát đau lòng phượng,
                Đàn vắng Tử Kỳ đàn với ai ?
                Mát mặt gió xuân đều bạn hữu,
                TRI ÂM đâu dễ gặp lần hai !

      Quả là " Dục mịch tri âm nan thượng nan ": Muốn tìm được một người tri âm là "khó trên khó". Có nghĩa là Khó vô cùng ! Hiểu nhau đã khó, hiểu cả tiếng đàn của nhau càng khó hơn nữa. 

      Trong Lưu Bình Dương Lễ Tân Truyện được in dưới thời vua Khải Định, khi Lưu Bình thi đậu đi tìm lại Dương Lễ. Biết được bạn đã âm thầm giúp mình dùi mài kinh sử để chiếm bảng vàng. Hai người đã cùng thù tạc đàn cầm với nhau :

                                 Xưa nay trong khúc đàn cầm,
                          CAO SƠN LƯU THỦY tri âm mấy người ?!

      Trong tác phẩm thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa- Lưu Nữ Tướng cũng có câu :

                                 Gió đưa nhẹ mái thuyền lan,
                        Điệu xoang LƯU THỦY, cung đàn CAO SƠN.
       
      Cuối cùng, ta có LƯU NGUYỄN lạc Thiên Thai. Theo U MINH LỤC của Lưu Nghĩa Khánh đời Tống(宋.劉義慶《幽明錄)chép rằng :

                                 Inline image

      Năm Vĩnh Bình thứ 5 đời Hán Minh Đế (Công nguyên năm 62), người đất Diễm (thuộc tỉnh Chiết Giang hiện nay) là LƯU THẦN 劉晨 và NGUYỄN TRIỆU 阮肇 vào Thiên Mụ sơn để hái thuốc. Thiên Mụ Sơn gồm có Lưu Môn sơn, Tế Tiêm, Đại Tiêm, Phất Vân Tiêm, Ba Tiêu sơn và Liên Hoa Phong quần tụ mà thành, thế núi hiễm trở, phong đỉnh chập chùng, cao nguyên rộng lớn, hoa cỏ rậm rạp xanh tươi, rừng núi bạt ngàn, muôn màu muôn vẻ. Lưu Nguyễn mãi mê hái thuốc, lạc sâu mãi trong rừng hoa thơm cỏ lạ, tới chừng nhìn lại thì trời đã về chiều, bụng lại đói meo. May sao bên triền núi có mấy cây đào mọc theo khe suối, nhằm lúc đào đang chín rộ, bèn hái lấy mấy trái mà ăn đỡ đói, nào ngờ đó là đào tiên, ăn vào ngon ngọt và thơm tho cả mồm miệng, khí lực lại sung mãn, bèn lần theo khe suối mà đi lên, đến một nơi khe nước rộng, trời đất như mở ra một thế giới mới, với hoa thơm cỏ lạ ven bờ, với oanh yến líu lo kêu hót, hai chàng  lấy ly ra để múc nước suối uống, thì thấy bên bờ khe đã đứng sẵn 2 nàng con gái tuyệt đẹp, cười mà rằng : "Hai chàng Lưu Nguyễn sao lại đến muộn thế ?" Bèn thân mật như người quen đã lâu năm, rước 2 chàng cùng về động phủ. Trong động như có trời đất riêng, phòng ốc khang trang tráng lệ, đã thiết bị sẵn 2 phòng hoa chúc, ngọc chuốc vàng treo, mười phần hoa lệ. Tiệc hoa cũng đã bày sẵn, tiên nữ tới lui tấp nập, cùng mời 2 chàng nhập tiệc với đầy đủ sơn hào hải vị. Xóm đông có các tiên nương cùng mang đến một mâm đào tiên, cười chúc cho hai nàng đã đón được hai chàng rể quí Lưu Nguyễn vừa du nhập Thiên Thai. Tiệc hoa vui vầy, rượu tiên thơm lừng, chưa nhấp đã say, hòa trong tiếng sanh ca hoan lạc, đưa hai chàng cùng vào động phòng với hai tiên nữ trong tiếng tiên nhạc du dương ngây ngất !...

                       Inline image

      Nhưng chỉ quá mươi ngày sau, Lưu Nguyễn cùng nhớ quê xin về, hai nàng cố cầm giữ lại. Được hơn nửa năm, mặc dù bên mình luôn có người đẹp...như tiên, nhưng khi nghe tiếng tử qui gọi xuân thắm thiết, hai chàng càng nghe lòng nhớ quê càng mãnh liệt hơn lên và nhất định xin về. Hai nàng đành phải buộc lòng đặt tiệc tiễn hành và chỉ lối để hai chàng về quê với biết bao là tình thương quyến luyến, bịn rịn chẳng nở rời xa !... 
       Về đến làng quê, thấy mọi cảnh vật đều đổi khác, tìm không thấy nhà cửa của mình ở đâu nữa. Hỏi thăm trong họ tộc, thì có một cụ già cho biết rằng : Ông Tổ bảy đời của họ đi vào núi hái thuốc rồi lạc mất đường không thấy trở về. Lưu Nguyễn ở trên Thiên Thai nửa năm, nhưng ở dưới núi đã qua đến 7 đời con cháu. Hỏi ra, thì bấy giờ đã vào năm Thái Nguyên Thứ 8 của đời nhà TẤN rồi ( Công Nguyên năm 388 ) hơn 300 năm sau rồi !. Hai người đành quay trở lại Thiên Thai, nhưng đã không còn tìm được đường lên Tiên động nữa ! 

                              Inline image

       Trong truyện thơ Nôm Nữ Tú Tài, sau khi biết Tuấn Khanh là nữ cải nam trang, tên là Phi Nga thì :

                              Soạn Chi nghe nói tỏ tường,
                    Khác nào LƯU, NGUYỄN gặp nàng tiên nhân.

       Trong bản nhạc Thiên Thai nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Cao bắt đầu bằng lời hát :

       "Tiếng ai hát chiều nay vang rền trên sóng, nhớ LƯU NGUYỄN ngày xưa lạc tới đào nguyên..."

       Mời tất cả cùng nghe lại bản nhạc bất hủ nầy với giọng hát cũng bất hủ cao vút của nữ ca sĩ bất hủ Thái Thanh !
                                          


Thiên Thai - Văn Cao - Tiếng Hát Thái Thanh


Thiên Thai - Văn Cao - Tiếng Hát Thái Thanh - YouTubewww.youtube.com › watch

             Hẹn bài viết tới !

                                         杜紹德
                                      ĐỖ CHIÊU ĐỨC
  


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

NHỚ NGOẠI NGÀY XƯA , THƠ HUỲNH TÂM HOÀI , NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN







NHỚ NGOẠI NGÀY XƯA
THƠ HUỲNH TÂM HOÀI
NHẠC & TRÌNH BÀY NGUYỄN HỮU TÂN
VIDEO CLIP HUỲNH TÂM HOÀI

TÂM SỰ HUYỀN TRÂN. - THƠ KHA TIỆM LY

 



TÂM SỰ HUYỀN TRÂN

Tình đã đi qua ngả rẽ đời,
Ngỡ ngàng phận gái cánh bèo trôi.
Mênh mang Phật Thệ mờ sương khói,
Mây trắng vờn quanh đỉnh tháp Hời.

Đá núi cheo leo dựng mấy từng,
Cây rừng ngàn gốc vẫn cô đơn.
Cố đô nằm dưới chân mây trắng,
Én lẽ lang thang đỉnh tháp buồn!

Rượu đã cạn rồi, ta đã say?
Dáng xưa còn thẹn nét trang đài.
Lung linh chén ngọc, mờ nhân ảnh,
Trâm cũ nằm trơ, lược biếng cài!

Một thoáng thu buồn len đến song,
Trăng xưa cười cợt, héo hon lòng.
Đàn rơi một khúc, nghìn ai oán,
Bạch lạp sầu ai lệ nhỏ dòng?

Tiệc đã tàn, đêm cũng đã khuya,
Hơi thu lành lạnh, gió sang mùa.
Đầu canh chợt tỉnh, buồn heo hắt,
Sầu lệ rơi đầy đẫm áo vua!!


KHA TIỆM LY


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

MÂY TRỜI TRẮNG QUÁ MẸ ƠI - THƠ NGUYỄN AN BÌNH




27 bức ảnh "làm mẹ là nhiệm vụ quan trọng nhất trên thế gian" đẹp nhất năm  2017





MÂY TRỜI TRẮNG QUÁ MẸ ƠI


 Bỗng dưng lòng muốn quay về
Tắm trên dòng sông thơ ấu
Thèm mùi cá chốt dầm me
Trong bát cơm chiều mẹ nấu.


Lại nhớ những trận đòn roi
Trèo cây bắt chim phá tổ
Lội bùn bắt cá ếch soi
Trợt chân bàn tay rướm máu.


Bỗng dưng lòng muốn trở về
Ngủ trong lời ru của mẹ
Chao ơi những buổi trưa hè
Ngọt ngào môi hiền con trẻ.


Bát canh tập tàng đơn sơ
Ngày xưa giờ sao xa lắm
Đi qua một thuở học trò
Cháy nắng còn thơm rơm rạ.


Mẹ về ngụ giữa mùa trăng
Hắt hiu nỗi buồn cố xứ
Quê nhà cách mấy dòng sông
Tìm trong giấc mơ xưa cũ.


Bỗng dưng lòng đau muốn khóc
Nhà xưa giờ ở nơi nào
Một đời bão dông chưa tạnh
Mẹ thành mây trắng trên cao.

6/9/2020

NGUYỄN AN BÌNH