CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

KHÓAN THỦ THƠ CHINH PHỤ NGÂM- THƠ THY LỆ TRANG

 




KHÓAN THỦ THƠ CHINH PHỤ NGÂM
Ngàn dâu xanh ngát một màu
Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

NỖI BUỒN

NGÀN khuya trăn trở,bồi hồi
DÂU phai , biển đổi ,,,mất thời ngây thơ
XANH ngày xưa...khoảng trời mơ
NGÁT đồng lúa chín, phất phơ cánh diều
MỘT mình, nghe tiếng gió chiều
MÀU hoa còn đó, người yêu nơi nào?

LỜI CHINH PHỤ

TÌNH vẫn còn vương giọt lệ đầy
CHÀNG đi biền biệt cuối chân mây
Ý chờ khắc khoải câu hò hẹn
THIẾP đợi xanh xao tiếng thở dài
AI đó ngậm ngùi trăng ải vắng
SẦU đây chất ngất nắng thu phai
HƠN bao xuân đã trôi hờ hững
AI nhớ chăng ai dáng liễu gầy?


THY LỆ TRANG


Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH: TÂN TẦN TẤN TÂY TẨY- ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 



THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 99 : 


                         TÂN TẦN TẤN TÂY TẨY



    TÂN ĐÌNH 新亭 : Theo "Lý Thái Bạch thi tập chú" của Thanh Vương Kỳ 清王琦《李太白詩集注》TÂN ĐÌNH tức là LAO LAO ĐÌNH 勞勞亭 nằm trên núi LAO LAO, thường dùng để chỉ nơi chia tay, tiễn biệt, như bài thơ ngũ ngôn rất gợi cảm của Lý Bạch sau đây :

               天下傷心處,  Thiên hạ thương tâm xứ,
               勞勞送客亭.    Lao lao tống khách đình.
               春風知別苦,  Xuân phong tri biệt khổ,
               不遣柳條青.    Bất khiển liễu điều thanh.
Có nghĩa :
         Nơi mà thiên hạ thương tâm nhất chính là cái đình đưa tiễn nhau tên Lao Lao nầy đây. Gió xuân như biết được nỗi khổ sầu của kẻ biệt ly, nên không khiến cho các nhánh liễu trổ cành lá xanh nữa.
       Ngày xưa, khi đưa tiễn nhau, người ở lại hay bẻ một nhành liễu tặng cho người đi làm roi ngựa. Bây giờ gió xuân cũng không thèm thổi cho các nhành liễu trổ lá xanh nữa, để người đưa tiễn khỏi bẻ liễu để tặng người đi, như là âm thầm phản đối các cuộc chia tay vậy.

Diễn Nôm :
                Đau lòng thiên hạ nơi nao,
                Là nơi tiễn biệt LAO LAO ĐÌNH nầy.
                Gió xuân biết khổ chia tay,
                Không mang sắc biếc để phai liễu tàn.

       Trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ trong văn cổ của ta có câu :

                      Cầu kia ai gọi TÂN ĐÌNH,
                 Chiếc bia trụy lệ rành rành bên sông.



                               TÂN ĐÌNH 新亭  là LAO LAO ĐÌNH 勞勞亭 

      TÂN KHỔ 辛苦. TÂN là Cay; KHỔ là Đắng. Có xuất xứ từ Đổng Trọng Thư đời Hán, theo sách Xuân Thu Phồn Lộ, Ngũ hành chi nghĩa 漢董仲舒《春秋繁露·五行之義》:“Kim mộc thủy hỏa tuy các chức, bất nhân thổ, phương bất lập, nhược toan hàm tân khổ chi bất nhân Cam phì bất năng thành vị dã 金木水火虽各职,不因土,方不立,若酸咸辛苦之不因甘肥不能成味也。Có nghĩa : "Kim Mộc Thủy Hỏa tuy đều có chức năng riêng, nhưng nếu không có Thổ thì sẽ không có nơi để đứng vững; Cũng như Chua Mặn Cay Đắng nếu không có Ngọt thì sẽ không phân biệt được các mùi vị đó. Nên TÂN KHỔ là Cay Đắng, mà Cay Đắng cũng tượng trưng cho sự vất vả cực khổ gian lao. Ta hãy nghe nàng Cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều than vãn :

                     Mùi tục lụy lưỡi tê TÂN KHỔ,
                     Đường thế đồ gót gỗ khi khu.
                     Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
                     Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh !

      Trong Truyện Kiều, sau khi biết Thúc Sinh chuộc Thúy Kiều từ lầu xanh về, Thúc Ông đã "cáo qùy cửa công". Quan Phủ cũng đã gia hình, rồi bắt Kiều về lại lầu xanh; Chàng Thúc đã phải khóc lóc xin xỏ, Quan Phủ lại thử tài của Thúy Kiều... Sau cùng lại kết hợp cho Thúc Sinh và Thúy Kiều được sum họp, làm cho Thúc Ông cũng phải :

                      Thương vì hạnh, trọng vì tài,
                   Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba
                       Huệ lan sực nức một nhà
                   Từng CAY ĐẮNG lại mặn mà hơn xưa !
     
      TẦN, HOẮC 秦,霍 : TẦN chỉ Tần Quỳnh 秦瓊(571—638)tự là Thúc Bảo 叔寶, người huyện Lịch Thành, Tề Châu (nay thuộc TP Tế Nam tỉnh Sơn Đông). Ông là danh tướng và là một trong 24 khai quốc công thần của nhà Đường, được ghi tên vào Lăng Yên Các 凌煙閣. Còn HOẮC là HOẮC KHỨ BỆNH 霍去病(140-117 trước Công Nguyên)người huyện Bình Dương, quận Hà Đông (nay thuộc TP Lâm Phần tỉnh Sơn Tây). Ông là danh tướng đời Tây Hán, là anh hùng dân tộc nhiều lần đem binh chống Hung Nô, được phong tặng là Phiêu Diêu Hiệu Úy.
      Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn có nhắc đến Tần Thúc Bảo và Hoắc Phiêu Diêu như sau :

                  凌煙閣兮秦叔寶    Lăng Yên Các hề Tần Thúc Bảo,
                  麒麟台兮霍嫖姚    Kỳ Lân Đài hề Hoắc Phiêu Diêu.

      Đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dễn Nôm như sau :

                       Tài so TẦN, HOẮC vẹn tuyền,
                  Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.



      TẦN TẢO 蘋藻 Xem lại THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 97 : TANG TAO TẢO TẠO. Trong bài phú Nôm "Cung trung bảo huấn 宮中寶訓", đề cao lễ giáo của Bùi Vịnh (1508–1545) là nhà Nho, danh thần đời nhà Mạc, có câu :

               Qúy nữ kính thay : Khay TẦN TẢO tay nâng chắm chắm.

      TẤN DƯƠNG 晉陽 là tên huyện nằm trong quận Thái Nguyên, nơi Đường Công Lý Uyên 李淵 trấn thủ. Năm Đại Nghiệp thứ 13 của nhà Tùy (617), Lý Uyên khởi binh ở Tấn Dương (còn được gọi là Cuộc khởi binh ở Thái Nguyên), chiếm lấy Trường An. Năm sau phế vua Tùy, tự xưng đế lập nên mà Đại Đường. 
      Trong Truyện Kiều, khi gặp Từ Hải, Thúy Kiều nhìn biết là người có chí lớn muốn xưng bá đồ vương, nên đã nói nịnh một câu làm cho Từ Hải vô cùng vừa ý :

                       Thưa rằng lượng cả bao dong,
                TẤN DƯƠNG được thấy mây rồng có phen.
    
      Từ Hải đã rất đắc ý mà đáp lời Thúy Kiều rằng :
 
                         Một lời đã biết đến ta, 
                Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau !


                            Đường Cao Tổ : Lý Uyên

       TẤN TẦN 晉秦 là tên của 2 nước thời Xuân Thu Chiến Quốc. Theo Tả Truyện- Hi Công năm thứ 23 của Tả Khâu Minh 左丘明《左傳·僖公二十三年》: Nước Tấn vì muốn thiết lập quan hệ hữu hảo với nước Tần, mới gả con gái cho Tần Mục Công, sử gọi là Tần Mục Phu Nhân. Sau khi Tấn Hiến Công chết, công tử Di ngô nối ngôi là Tấn Huệ Công. Huệ Công 2 lần phụ ước với Tần. Tần đem binh đánh bắt được Huệ Công. Huệ Công phải đem công tử Ngữ qua Tần làm con tin. Tần Mục công lại gả con gái cho công tử Ngữ, Tấn Huệ Công chết, công tử Ngữ lên thay, xưng là Tấn Hoài Công, tánh tình khắc bạc làm cho triều chính đão điên. Trong lúc công tử Trùng Nhĩ đang lưu vong bên ngoài, được Tần Mục Công giúp đỡ, gã cho ái nữ  Hoài Doanh. Năm 636 trước Công Nguyên lại cho quân đội hộ tống về nước, lên thay Tấn Hoài Công, tức là Tấn Văn Công nổi tiếng trong lịch sử. Sau đó Tấn Văn Công lại cho con trai cưới tôn nữ trong tông thất của nhà Tần làm vợ... Năm đời liên tiếp đều liên hôn với nhau. Đó chính là xuất xứ của thành ngữ "TẦN TẤN CHI HẢO 秦晉之好".
       Trong văn học cổ Việt Nam ta gọi là "Nên Duyên Tần Tấn" hay "Nên Nghĩa Tấn Tần", như trong truyện thơ Nôm "Phương Hoa- Lưu Nữ Tướng" :

                        Hẵn duyên nầy đã an bày,
                TẤN TẦN xin quyết một lời nên chăng ?!





       TÂY PHƯƠNG 西方 hay TÂY THIÊN là Vùng đất chỉ quê hương của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn gọi là Tây Phương cực lạc, là vùng đất của giác ngộ của niết bàn khi đã tu thành Phật. Trong tác phẩm SÃI VÃI của cụ Nguyễn Cư Trinh, ông Sãi đã nói với bà Vãi :

                 Lòng người dầu thiết, thời đạo cũng gần.
                 Qua TÂY PHƯƠNG còn cách trở non thần; 
                 Sau phương trượng đã sẵn sàng bàn Phật

   ... và bà Vãi đã đáp lời ông Sãi rằng :

                 Lôi Âm tự có tu mới thành Phật;
                 Thiên Thai sơn có phước cũng nên tiên.
                 Biết đường nào qua thấu TÂY THIÊN; 
                 Cậy chỉ nẻo tu cùng khuya sớm.

       Ông Sãi nói cho bà Vãi biết nỗi khó khăn khi muốn đi tìm đất Phật :

                 TÂY PHƯƠNG không đường tới;
                 Bắc lộ khó nẻo qua.
                 Đường Nam phương thấy đó chẳng xa, 
                 Thì những sợ nhiều quân Đá Vách.
  
       Cuối cùng, bà Vãi đã kết thúc bằng một câu chúc phúc cho chúa Nguyễn Võ Vương lúc bấy giờ là :

                          Thôi thời ông sãi hãy ngồi,
                 TÂY PHƯƠNG Vãi tới tìm nơi Thiên Đường.
                     Muôn năm chúc tuổi Nguyễn Vương,
                    “Nam mô” hai chữ phi thường mặc ai.



       TÂY TỬ 西子 là TÂY THI 西施 cô gái đẹp của nước Việt thời Chiến Quốc; là một trong TỨ ĐẠI MỸ NHÂN 四大美人 của Trung Hoa. Theo "Việt Tuyệt Thư dẫn trong Ngô Địa Ký của Lục Quảng Vi đời nhà Đường 唐人陸廣微《吴地記》再引《越绝書》có dẫn lại tích sau đây :

       TÂY THI ở Trữ La Thôn dưới chân núi Trữ La của nước Việt, người trog thôn phần nhiều đều là họ Thi; Vì Tây Thi ở thôn phía tây nên gọi là TÂY THI (còn có một cô ở thôn đông gọi là ĐÔNG THI 東施 nữa). Các cô thường hay ra giặt lụa bên bờ sông. Lúc bấy giờ, nước Việt thua trận ở Phù Tiêu (494 trước Công Nguyên) Việt Vương Câu Tiễn phải thần phục Ngô Vương Phù Sai. Vì muốn báo thù, Văn Chủng và Phạm Lãi kiến nghị Câu Tiễn dâng lên một toán người đẹp do Trịnh Đán cầm đầu, trong đó có người đẹp Tây Thi. Sau ba năm dạy ca múa và nề nếp trong cung Phạm Lãi thay mặt Câu Tiễn dâng lên cho Ngô Vương Phù Sai. Tướng quốc là Ngũ Tử Tư can rằng :"... Nhà HẠ mất vì Muội Hỉ, nhà Thương mất vì Đắc Kỷ, nhà Châu mất vì Bao Tự; Nên người đẹp là họa vong quốc, xin chúa công đừng nhận". Ngô Vương không nghe, lại cho xây Cô Tô Đài và Xuân Tiêu Cung, lại cho xây Quán Oa Cung trên núi Linh Nham với một hồ nước lớn để đêm ngày vui chơi với Tây Thi và các người đẹp; bỏ phế việc triều chính. Việt Vương Câu Tiễn thừa cơ dẫn 5 vạn tinh binh đánh vào Cô Tô, thiêu hũy Cô Tô Đài. Phù Sai phải chạy lên núi Cô Tô, cầu hòa không được phải tự sát. Nước Ngô bị tiêu diệt từ đó. Tương truyền, sau đó Phạm Lãi từ quan, cùng người đẹp Tây Thi dạo chơi trong vùng Ngũ Hồ rồi... biệt tích.
       Trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã tả nàng cung phi của mình còn đẹp hơn là TÂY THI nữa :

                       Hương trời đắm nguyệt say hoa,
                   TÂY THI mất vía, Hằng nga giật mình !

   ... và khi được nhà vua sủng ái thì cũng đắc ý như... Tây Thi :

                      Sênh ca mấy khúc vang lừng,
                  Cái thân TÂY TỬ lên chừng điện Tô !

        

                            Tây Thi qua họa hình và Điện ảnh

       TẨY TRẦN 洗塵 là Rửa bụi; có nghĩa Rửa cho sạch bụi bặm lúc đi đường. Theo phong tục của người Hoa, đối với người ở xa đến hoặc người đi xa về, thì có tục lệ là đặt một bàn tiệc hoặc đãi một bửa cơm để tiếp đón, gọi là để rửa sạch bụi đường. Đó là Tiệc Tẩy Trần. Như khi nghe theo lời khuyên của Thúy Kiều về nhà thăm Hoạn Thư, thì chàng Thúc đã được Hoạn Thư chào đón và đặt tiệc thết đãi :

                      TẨY TRẦN vui chén thong dong,
                      Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra !

       Như khi tưởng Thúy Kiều đã chết, Thúc Sinh mò về thăm Hoạn Thư, nào ngờ lại gặp Thúy Kiều ra lạy mừng hầu rượu. Chàng Thúc đã... tá hỏa, rồi...bật khóc; làm cho Hoạn Thư phải vặn hỏi; nên chàng lại đặt điều nói dối rằng vì mẹ mình mới mất :

                             Sinh rằng: “Hiếu phục vừa xong,
                         Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên!”
Làm cho Hoạn Thư phải :
                              Khen rằng: “Hiếu tử đã nên,
                      TẨY TRẦN mượn chén giải phiền đêm thu.”

      TẨY NHĨ 洗耳 là Rửa Tai. Có tích từ Hán Thái Ấp 漢蔡邕《Cầm Tháo . Hà Gian Tạp Ca. Ky Sơn Tháo 琴操·河間雜歌·箕山操》Có tích của Sào Phủ 巢父 và Hứa Do 許由 như sau :
      Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi. Hứa Do từ chối, cười mà về ẩn cư tại Cơ Sơn. Sau vua Nghiêu lại cho người đến mời về triều để truyền ngôi lần nữa. Hứa Do lại từ chối, rồi cho rằng những lời về danh lợi làm bẩn tai mình, nên xuống bến sông Dĩnh thủy mà rửa tai. Khi đó, Sào Phủ đang định dắt trâu tới bến sông cho uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao. Hứa Do trả lời: "Ông Nghiêu đòi tôi về triều để nhường ngôi vua cho tôi, nên tai tôi đã bị ô uế vì đã nghe những lời danh lợi". Sào Phủ bèn dắt trâu lên trên đầu giòng mới cho trâu uống nước. Hứa Do hỏi tại sao, Sào Phủ đáp: "Anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhằm thứ nước bẩn kia."
     Tích Sào Phủ Hứa Do trở thành một điển cố về lòng trong sạch cao khiết và tính ẩn dật thanh cao. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, khi Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm vô quán nước gặp một chủ quán có vẻ có văn tài. Vân Tiên khuyên ông ra làm quan. Ông trả lời rằng :

                   Quán rằng: Nghiêu Thuấn thủa xưa
                  Khó ngăn SÀO PHỦ, khôn ngừa HỨA DO.

       Ý nói, ngay cả đời thịnh vượng thanh bình như thời vua Nghiêu vua Thuấn mà còn có người ẩn dật không ra làm quan làm vua huống chi là thời nay. Trong "Lâm Tuyền Khách Phú" cũng có câu :

                    Núi ẩn thân đá vững như trồng,
                    Suối TẪY NHĨ nước trong như lọc.



      Hẹn bài viết tới :

                              TÊN TIỆN TIỆP TIÊU TIỂU


                        杜紹德
                     ĐỖ CHIÊU ĐỨC




GIÀ - THƠ HUỲNH TÂM HOÀI

 




GÌA
Lục phủ, ngủ tạng quá lâu.
Theo ta qua mấy cơ cầu trần ai
Bao năm suốt đoạn đường dài
Giờ đây mỗi đứa sức gầy hư hao.
Bổ xung bụm thuốc thêm vào
Đứa thì chịu thuốc đứa chào không ưa
Đứa rệu rạo …sáng nắng chiều mưa.
Ui cha! Đành chịu …quá mùa lúa non.
Ráng thôi!...dù sức hao mòn.
Ta ơi! còn sống ta còn ước mơ...


HTH

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Giai Thoại Văn Chương: ANH EM XƯỚNG HỌA. - ĐỖ CHIÊU ĐỨC



 GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG:

                               ANH EM XƯỚNG HỌA


        Trong cổ thi, rất ít khi thấy anh em bạn bè xướng họa với nhau. Mời đọc một giai thoại về Xướng Họa giữa hai anh em Tô Đông Pha và Tô Triệt, hai trong số Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 (Tám nhà văn học giỏi nhất đời Đường và đời Tống) như sau :


         Tô Triệt 蘇轍 tự là Tử Do 子由, em trai của Tô Đông Pha 蘇東坡, tài hoa xuất chúng. Khi mới 19 đã được bổ nhiệm làm quan Chủ Bộ của huyện Mẫn Trì, chưa kịp đáo nhậm thì trên đường đi thi đã đậu ngay Tiến Sĩ. Tô Triệt cùng anh là Tô Thức 蘇軾, tự là Tử Chiêm 子瞻, hiệu là Đông Pha Cư Sĩ 東坡居士, cùng lai kinh ứng thí, khi đi ngang qua huyện Mẫn Trì, đêm trọ lại trong một tăng xá trong chùa, cùng đề thơ tặng sư trên vách. 


     Mùa đông năm Gia Hựu thứ 6 đời nhà Tống (1061), Tô Thức được bổ nhiệm đi làm quan ở Phụng Tường Thiểm Tây, lại phải đi ngang qua huyện Mẫn Trì. Tô Triệt đưa anh đến phía ngoài cửa Tây của thành Trịnh Châu. Tô Thức đã làm một bài thơ chia tay trên ngựa cho em như sau :


                 寒燈相對記疇昔,    Hàn đăng tương đối ký trù tích,

                 夜雨何時聽蕭瑟?    Dạ vũ hà thời thính tiêu sắt ?

                 君知此意不可忘,    Quân tri thử ý bất khả vong,

                 慎勿苦愛高官職!    Thận vật khổ ái cao quan chức !

Có nghĩa :

               Đèn lạnh nhìn nhau nhớ cổ tích,

               Đêm mưa ngày nao nghe rả rít ?

               Biết em ý ấy chớ nên quên,

               Cẩn thận đừng vì ham quan chức !



      Tô Triệt cũng làm một bài thơ《Hoài Mẫn Trì ký Tử Chiêm Huynh 懷澠池寄子瞻兄》tặng cho anh trước khi chia tay về lại kinh thành. Bài thơ đó như sau :


               相攜話別鄭原上,   Tương huề thoại biệt Trịnh nguyên thượng,

               共道長途怕雪泥。   Cộng đạo trường đồ phạ tuyết NÊ.

               歸騎還尋大梁陌,   Quy kỵ hoàn tầm đại Lương mạch,

               行人已度古崤西。   Hành nhân dĩ độ cổ Hào TÊ (TÂY).

               曾為縣吏民知否?   Tằng vi huyện lại dân tri phủ ?

               舊宿僧房壁共題。   Cựu túc tăng phòng bích cộng ĐỀ.

               遙想獨遊佳味少,   Dao tưởng độc du giai vị thiểu,

               無言騅馬但鳴嘶。   Vô ngôn chuy mã đản minh TÊ.

* Có nghĩa :

      - Cùng dắt tay nhau đi và cùng nói lời tạm biệt trên thảo nguyên đất Trịnh Châu.- Cùng bảo nhau đường xa sợ nhiều tuyết bẩn (vất vả).

      - Người quay đầu ngựa trở về còn đang lẩn quẩn trong đường ruộng đại Lương; còn người đi là huynh trưởng chắc đã qua khỏi đường núi Hào tây rồi.

      - Ta đã từng làm qua chức huyện lại ở đây rồi không biết dân chúng có biết không, và trước đây đã từng ngụ ở tăng phòng nầy và đã cùng đề thơ trên vách.

      - Những nghĩ là huynh trưởng du hành đơn độc chắc là rất vô vị; Con đường trước mặt lặng lẽ im lìm chỉ có tiếng ngựa kêu hí mà thôi.



* Diễn Nôm :

                                             (Song thất lục bát)


                  Ngoài Trịnh Châu vẫy tay giả biệt,

                  Ngại đường xa chi xiết tuyết lầy,

                  Đại Lương đường ruộng về đây,

                  Hào Tây núi thẳm người đi dặm ngàn.


                  Từng vì dân giữ an huyện lại,

                  Trọ tăng phòng vách lại đề thơ,

                  Đường xa lữ khách mịt mờ,

                  Dặm trường lặng lẽ ngựa khờ hí vang !

                                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm


      Khi đi đến huyện Mẫn Trì, Tô Đông Pha nhớ lại chuyện 5 năm trước, khi cùng Tô Triệt lai kinh ứng thí, đêm ở trọ lại một ngôi chùa ở đây, lúc chia tay đã đề tặng một bài thơ trên vách tăng phòng của nhà sư trụ trì là Phụng Nhàn 奉閒. Nay thì nhà sư đã viên tịch, vách cũ cũng đổ nát, cảm xúc cho cái vô thường của thế sự, lại nhận được bài thơ của em trai gởi, bèn làm bài thơ họa vận để nhớ về Mẫn Trì khi cùng với Tô Triệt tá túc nơi đây. Giác ngộ về lẽ vô thường của sự vật làm cho Tô Đông Pha xem nhẹ về lợi danh được mất ở đời, cho đó là chuyện tự nhiên; hình thành phẩm cách cao cả nơi con người ông khi bắt đầu bước vào con đường hoạn lộ làm quan, với cái tinh thần tích cực yêu dân yêu nước và dám xả thân để báo quốc mà không ngại gian lao khổ nhọc. Ta hãy đọc bài thơ "HỌA TỬ DO MẪN TRÌ HOÀI CỰU 和子由澠池懷舊". Có nghĩa :"Họa với Tử Do nhớ lại chuyện cũ ở huyện Mẫn Trì" sẽ rõ : 


              人生到處知何似?    Nhân sinh đáo xứ tri hà tự ?

              應似飛鴻踏雪泥。   Ưng tự phi hồng đạp tuyết NÊ.

              泥上偶然留指爪,   Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo,

              鴻飛哪復計東西?    Hồng phi nả phục kế đông TÊ (TÂY)?

              老僧已死成新塔,   Lão tăng dĩ tử thành tân tháp,

              壞壁無由見舊題。   Hoại bích vô do kiến cựu ĐỀ.

              往日崎嶇還記否?    Vãng nhật khi khu hoàn ký phủ ?

              路長人困蹇驢嘶。   Lộ trường nhân khổn kiển lư TÊ.

* Có nghĩa :

        - Người đời phiêu bạt hết chỗ nầy đến chỗ kia, giống như là gì đây ? Tôi nghĩ giống như là chim hồng hộc ngẫu nhiên đậu xuống trên bùn trên tuyết mà thôi.

        - Trên bùn trên tuyết ngẫu nhiên lưu lại cái vết móng vuốt của chim hồng, chớ chim hồng bay sang đông hay bay sang tây đều không có tính toán trước.

        - Lão hòa thượng thì đã viên tịch rồi chỉ còn lưu lại cái tháp tro cốt mà thôi; và chúng ta cũng không có dịp đi nhìn lại tấm vách có đề thơ năm xưa giờ đã đổ nát.

        - Có còn nhớ ngày xưa trên đường đá gập ghềnh trắc trở khi đi đến đây; Đường đã xa xôi người lại mõi mệt còn lừa thì cũng bước chân khập khiểng và cất tiếng hí vang.



* Diễn Nôm :

   

                                 (Song thất lục bát)


                         Kiếp người đời hợp tan ai muốn ?

                         Tựa chim hồng đáp xuống tuyết lầy,

                         Tuyết lưu móng vuốt là đây,

                         Chim hồng bay mãi đông tây chẳng màng !


                         Lão tăng đã dặm ngàn khuất núi,

                         Vách đề thơ tàn lụi khó tìm,

                         Đường xưa núi đá gập ghềnh,

                         Xa xăm người mõi lừa rên hí tràn !     

                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

                     

                        Tô Thức  (Tử Chiêm)    Tô Triệt  (Tử Do)

           

       Cái triết lý nhân sinh đượm một chút Thiền Ý của Tô Đông Pha rất đáng cho ta suy gẫm; Vì nó thiên về chí hướng tích cực của Nho gia, chớ không buông xuôi tiêu cực như người đời thường nghĩ. Ta hãy nghe lại bài thơ "HỌA TỬ DO..." của ông sẽ rõ...

       Bốn câu đầu ông nêu lên ý : Người đời ở đâu cũng thế, giống như con chim hồng nhạn tình cờ bay đáp xuống vũng lầy bùn tuyết để lại dấu ấn rồi bay đi khắp đông tây mà không còn nhớ gì tới dấu ấn đó nữa; Dấu ấn đó còn hay mất con chim nhạn cũng không cần biết tới làm chi nữa. Bốn câu sau, ông ví với việc anh em ông đề thơ trên vách tăng phòng của nhà chùa khi trọ qua đêm nơi đó; Nay thì nhà sư Phụng Nhàn đã mất, chỉ còn lại cái tháp tro cốt mà thôi; Bức vách đề thơ cũng đã sụp đổ theo mưa nắng của tháng năm. Chuyện ngủ trọ đề thơ cũng giống như chuyện chim hồng để lại dấu ấn trên bùn tuyết, là chuyện "Vô Thường của Cuộc Sống" xảy ra hằng ngày, ta phải biết châm chước mà phớt lờ NÓ đi, đừng để NÓ vướng bận mãi trong lòng làm cho cuộc sống luôn luôn phiền muộn. Chuyện "Ở trọ đề thơ" là một trong muôn ngàn chuyện của cuộc sống của con người; Phải quên NÓ đi, như con chim hồng nhạn không nhớ gì đến việc để lại vết tích trên bùn tuyết ; QUÊN để còn tích cực vui sống và làm việc giúp ích cho đời; QUÊN để còn đối phó với biết bao nhiêu sự cố sẽ lần lượt xảy ra trong cuộc sống của những tháng ngày tiếp nối.


      Đây là cái nhân sinh quan lạc quan trước vô thường của cuộc sống của Tô Đông Pha; Ông cũng khuyến khích em trai mình theo cái nhân sinh quan tích cực nầy mà đi vào cuộc sống. Chả trách hai anh em ông đều là những ông quan tốt và lại là hai thành viên nổi tiếng trong "Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 ".


     Sau đây là hai bài thơ Xướng Họa của anh em nhà họ Tô, được diễn Nôm theo phong cách "Xướng Họa Hiện Nay" của qúy Tiền bối thân hữu trong các vườn thơ thẩn... Ai có nhã hứng thì cùng dịch cho vui (dĩ nhiên là sẽ chọn VẦN tùy thích !).


    XƯỚNG :

               HOÀI MẪN TRÌ KÝ TỬ CHIÊM HUYNH 懷澠池寄子瞻兄 


                   Vẫy tay giả biệt cửa tây Trịnh,

                   Cùng sợ đường xa lắm tuyết lầy.

                   Lẫn khuất người về đường ruộng đó,

                   Gập ghềnh kẻ vượt núi non đây.

                   Trước làm huyện lại dân nào biết,

                   Xưa ngụ đề thơ chẳng kẻ hay.

                   Đơn lẻ hành trình sầu chất ngất,

                   Người buồn ngựa mỏi hí vang vầy !


    HỌA :

                HỌA TỬ DO MẪN TRÌ HOÀI CỰU 和子由澠池懷舊


                   Cuộc sống nhân sinh sao biết được ?

                   Tựa như hồng nhạn đáp bùn lầy,

                   Bùn lầy dấu ấn còn đây đó,

                   Trời rộng hồng bay khắp đó đây.

                   Viên tịch sư già nào kẻ biết,

                   Vách xiêu thơ đổ chẳng người hay.

                   Đường xưa khấp khểnh quên hay nhớ ?

                   Người mõi lừa què hí mãi vầy !

                                               Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.



       Mong rằng mọi người đều có quan niệm VÔ THƯỜNG một cách tích cực như là 

TÔ ĐÔNG PHA vậy !


      Đọc bài thơ trên của Tô Đông Pha, làm cho ta lại nhớ đến bài thơ Thiền "VÔ TÂM 無心" của Hương Hải Thiền Sư 香海禪師 (1628 - 1715) đời Hậu Lê của Việt Nam ta như sau :

     

                鴈 過 長 空,           Nhạn quá trường không,                        

                影 沉 寒 水.           Ảnh trầm hàn thủy.                     

                鴈 無 遺 跡 之 意,   Nhạn vô di tích chi ý                 

                水 無 留 影 之 心.   Thủy vô lưu ảnh chi tâm .

Có nghĩa :

         Con chim nhạn bay ngang qua bầu trời, cái bóng của nó in xuống dưới dòng nước lạnh. Con nhạn đó không có Ý để lại vết tích của mình dưới nước, mà nước cũng không có Lòng giữ lại hình bóng của chim nhạn. 

        Tất cả đều là lẽ tự nhiên của Vô Thường, Vô Tâm, của Tâm Vô Sở Trụ 心無所住 !



Diễn Nôm:

                 Nhạn bay cao vút trên không,

                 Bóng chìm đáy nước lạnh căm vô tình.

                 Nhạn không có Ý để hình,

                 Nước không Lòng giữ bóng hình nhạn đâu! 

                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm


            

       Hẹn bài viết tới 


                                                                杜紹德

                                                          ĐỖ CHIÊU ĐỨC


Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

TRẮNG CẢ HOÀNG HÔN. - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ

 




TRẮNG CẢ HOÀNG HÔN


.Vừa mới hôm nào

Tôi nghe người ta nói ;

Trong vườn xưa đầy xác lá vàng rơi

Nhưng hôm nay

Chính mắt tôi nhìn thấy,

Sau bờ nắng vàng lấp lánh lá xanh tươi.

Rồi bây giờ,

Cũng bao lời như vậy !

Có những lá xanh kia

Rơi về bến rêu cồn.

Còn thấp thoáng ngoài xa bao cành lao sậy,

Trắng trong chiều, và trắng cả hoàng hôn.!



Tampa, 29/6/2023.

MẶC PHƯƠNG TỬ.


Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2023

NGỦ ĐI EM - NHẠC KHÊ KINH KHA





NGỦ ĐI EM
 
1) ngủ đi em, đêm thôi mịt mù
ngủ đi em, yêu thương đợi chờ
ngủ đi em, môi ấm còn thơm
ngủ đi em, hoa lá nghiêng nằm
ngủ cho yên, quên tháng năm buồn thương
 
dù đêm nay mưa có còn bay
dù trong em chua xót còn đầy
dù trăm năm khô héo từ đây
vẫn xin em yêu hết tình tôi
vẫn xin em
vẫn xin em yêu mãi tình này
à á ơi, à á ơi
ngủ cho ngoan, em nhé, ngủ cho yên
 
 
2) ngủ đi em, lênh đênh phận người
ngủ đi em, hương thơm vào đời
ngủ đi em, hơi ấm tình say
ngủ cho yên, mơ ước thêm nồng
ngủ cho ngoan, cho hết trăm nghìn năm
 
dù mai đây, mặt đất vỡ tan
dù trăng sao rơi rớt muộn màng
dù thiên thu rã nát trần gian
tình đôi ta vẫn mãi bền lâu
nghìn năm sau
nghìn năm sau vẫn mãi ngọt ngào
ngủ đi em - ngủ cho lâu
mình yêu nhau, em nhé, mình yêu nhau
 
 
3) ngủ đi em, tương lai mặn nồng
ngủ đi em, yêu thương vợ chồng
ngủ đi em, hương phấn dịu êm
ngủ cho ngoan, cho hết ưu phiền
mình yêu nhau, yêu mãi yêu dài lâu
 
dù mai đây em có phụ tôi
dù cho em xa lánh tình này
dù đau thương xé nát hồn tôi
cũng yêu em, yêu mãi tình ơi
cũng yêu em
cũng yêu em, yêu hết đời này
à á ơi, à á ơi
ngủ đi em, ngoan nhé, ngủ cho yên
 
                                    KHÊ KINH KHA
 






NGỦ ĐI EM
NHẠC KHÊ KINH KHA
TRÌNH BÀY DANH CA Ý LAN