CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

THƠ XUÂN CỦA NGUYỄN DU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM

 



     Tượng Thi hào NGUYỄN DU ở Bảo tàng Hà Tĩnh


Góc Việt Thi : 

                        Thơ Xuân của NGUYỄN DU 
                                   

       Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Hai bài thơ sau đây nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm (hen suyễn). Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây). Mời đọc hai bài thơ xuân trong giai đoạn trên của Thi hào Nguyễn Du sau đây :

1. Bài thơ XUÂN NHẬT NGẪU HỨNG 春日偶興 :

    春日偶興                XUÂN NHẬT NGẪU HỨNG

患氣經時戶不開,    Hoạn khí kinh thời hộ bất khai,
逡巡寒暑故相催。    Thuân tuần hàn thử cố tương thôi.
他鄉人與去年別,    Tha hương nhân dữ khứ niên biệt,
瓊海春從何處來。    Quỳnh Hải xuân tòng hà xứ lai ?
南浦傷心看綠草,    Nam phố thương tâm khan lục thảo,
東皇生意漏寒梅。    Đông hoàng sinh ý lậu hàn mai.
鄰翁奔走村前廟,    Lân ông bôn tẩu thôn tiền miếu,
斗酒雙柑醉不回。    Đấu tửu song cam túy bất hồi !
                     阮攸                                     Nguyễn Du





* Chú thích :
    - Hoạn Khí 患氣 : là Bệnh hoạn có liên quan đến đường hô hấp. Như hen suyễn chẵng hạn...
    - Kinh Thời 經時 : là Trải qua thời gian dài. Như Kinh Niên 經年 là Cả năm; còn có nghĩa Năm nầy qua năm khác.
    - Thuân Tuần 逡巡 : là Dùng dằng, do dự, lưỡng lự, rụt rè.
    - Tương Thôi 相催 : Thôi thúc nhau; Dùng dằng Đùn đẫy nhau. 
    - Quỳnh Hải 瓊海 :  là một Xã thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
    - Nam Phố 南浦 : Bến bãi phía nam; Bờ phía nam.
    - Đông Hoàng 東皇 : là Ông hoàng ở hướng đông, còn gọi là Đông Quân 東君; Vì hướng đông chủ mùa Xuân, thuộc Mộc là hoa lá cỏ cây có màu xanh, nên còn được gọi là THANH ĐẾ 青帝. Tất cả những từ trên đều chỉ Chúa Xuân, như trong bài thơ MAI RỤNG của Jean. Leiba (Lê Văn Bái, một thi sĩ thời Tiền Chiến) có vế thơ sau :
                    Yêu chàng em cố chuốc hình dong,
                    Tô cặp môi son điểm má hồng.
                    Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,
                    Cảm tình THANH ĐẾ tạ đông phong !

    - Sinh Ý 生意 : là Cái ý sống còn, sinh sôi nẩy nở. SANH Ý còn có nghĩa là "Nghề nghiệp làm ăn để sinh tồn". Dùng rộng ra SANH Ý còn có nghĩa là Buôn bán. 
    - Lân Ông 鄰翁 : là Ông già hàng xóm.

* Nghĩa bài thơ :
                                  NGẪU HỨNG NGÀY XUÂN
       Bệnh hen suyễn kéo dài lâu ngày, cứ dai dẵng mãi nên không dám mở cửa nhà. Dùng dằng mãi hết nóng rồi lạnh, hết lạnh lại nóng cứ đẩy đưa nhau. Người tha hương là ta đây lại phải một lần nữa chia tay với năm đã đi qua; Mùa xuân của xứ Quỳnh Hải nầy là từ đâu đến vậy ? Ta buồn trong lòng mà nhìn bờ phía nam cỏ đã xanh lục vì gió xuân. Cái mầm sống của chúa xuân (đông quân) đã tiết lộ trên những cành mai lạnh (đã đâm những chồi non). Ông lão hàng xóm đi nhanh về phía miếu trước thôn, tay xách đấu rượu và hai qủa cam chắc là đã say sưa rồi nên không thấy trở lại.

* Diễn Nôm :



                     XUÂN NHẬT NGẪU HỨNG  

                 Hen suyễn ngày qua cửa đóng dài,
                 Dùng dằng nóng lạnh đẩy đưa hoài.
                 Tha hương lần nữa người ly biệt,
                 Quỳnh Hải từ đâu xuân đáo lai ?
                 Bờ bãi cỏ xanh khơi áo não,
                 Chúa xuân ý bén nhú cành mai.
                 Ông già hàng xóm ra thôn miếu,
                 Rượu quít cầm tay chắc đã say !
     Lục bát :
                 Suyễn nên cửa đóng then cày,
                 Mặc trời nóng lạnh bao ngày đẩy đưa.
                 Tha hương lần nữa năm đưa,
                 Xuân về Quỳnh Hải vẫn chưa sẵn sàng.
                 Cỏ xanh sầu kín bờ nam,
                 Chúa xuân nhẹ bước mai vàng nhú xanh.
                 Lân ông ra miếu bước nhanh,
                 Tay quít tay rượu đã thành ông say !
                                                       Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 2. Bài thơ XUÂN DẠ 春 夜 : 

         春 夜                             XUÂN DẠ

黑 夜 韶 光 何 處 尋?     Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm ?
小 窗 開 處 柳 陰 陰.     Tiểu song khai xứ liễu âm âm
江 湖 病 到 經 時 久,     Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
風 雨 春 隨 一 夜 深.     Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
羈 旅 多 年 燈 下 淚,     Ký lữ đa niên đăng hạ lệ
家 鄉 千 里 月 中 心.     Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
南 臺 村 外 龍 江 水,     Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy
一 片 寒 聲 送 古 今.     Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).
                          阮攸                                             Nguyễn Du

        

* CHÚ THÍCH :
    - Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Chỉ thời gian. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi"(90 ngày của mùa xuân đã qua hơn 60 ngày rồi !)
    - Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.
    - Ký Lữ 羈旅 : Gởi thân nơi đất khách.
    - Nam Đài 南臺 : Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.
    - Long Giang 龍江 : Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

* NGHĨA BÀI THƠ :
                                          ĐÊM XUÂN
       Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

* DIỄN NÔM :




                                 ĐÊM XUÂN

                    Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,
                    Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.
                    Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,
                    Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.
                    Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,
                    Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.
                    Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,
                    Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.
    Lục bát :
                   Tìm đâu đêm tối thiều quang ?
                   Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.
                   Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,
                   Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.
                   Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,
                   Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.
                   Long Giang dòng nước Nam Đài,
                   Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim. 
                                                    Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

* Bản dịch của Thầy Nguyễn Lộc :

                Đêm xuân

         Đêm tối tăm tìm đâu xuân sắc 
         Liễu âm u im phắt ngoài song .
         Giang hồ bệnh hoạn khiếp lòng 
         Xuân về mưa gió mịt mùng đêm sâu .
         Khách bên đèn lệ sầu năm tháng 
         Quê dặm ngàn lai láng nguyệt trông .
         Nam Đài Long Thủy một dòng 
         Cổ kim sóng tiễn lạnh lùng mãi trôi .
                                           Mailoc phỏng dịch
                                                                   (2014)
  
* Bản dịch của Thầy Chân Diện Mục Nguyễn Huy Viên :
 
               TIẾNG LÒNG ĐÊM XUÂN

             Đêm sâu chẳng sáng chút nào
         Bên hiên liễu rủ một màu tóc tang
             Bệnh lâu thẹn đối giang san
         Gió mưa điên đảo tâm can dật dờ
             Lang thang rơi lệ đèn mờ
         Quê hương muôn dặm ơ hờ ngắm trăng
             Ngoài thôn sông nước lạnh căm
         Thời gian lướt nhẹ khôn ngăn tiếng lòng
                                                        C.D.M.  
                                                          (2014) 

             Hẹn bài dịch tới !

                                                                   杜紹德
                                                                ĐỖ CHIÊU ĐỨC



TRÀO LƯU “YÊU SỚM” CỦA CÁC CẬU ẤM CÔ CHIÊU- VŨ THỊ HƯƠNG MAI

 

Hương Mai

14:31 Th 4, 31 thg 1 (19 giờ trước)
đến tôi


TRÀO LƯU “YÊU SỚM” CỦA CÁC CẬU ẤM CÔ CHIÊU

 

Phải chăng giới trẻ ngày nay đang quá dễ dãi trong tình yêu?

Yêu hết mình, chơi hết mình đang được xem là cách sống thời thượng của một bộ phận khá đông bạn trẻ. Nhiều cô cậu lao vào con đường "tình yêu" từ tuổi 15 mà không hề lường được những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.

Bà Lê Thị Túy, chuyên viên tư vấn kỹ năng và cuộc sống cho vấn đề này là một biểu hiện của lối "sống vội" của giới trẻ thế kỷ XXI. Điều này thật vô cùng tai hại vì hiện nay giới trẻ đang hiểu đó là lối sống tự do cá nhân, sống theo ý thích của bản thân mình. Cách khẳng định mình bằng những hành vi lệch chuẩn, vượt ra ngoài đạo đức ấy sẽ làm thui chột đi những giá trị nhân văn của các thế hệ kế tiếp.

Có lẽ sẽ khó có thể chấp nhận được, thậm chí gây sốc đối với ai lần

đầu bắt gặp hình ảnh một "cặp tình nhân học lớp chín" vai kề vai, âu yếm vuốt tóc, nhìn nhau đắm đuối. Nhưng những cảnh tượng yêu đương ấy giờ đây không còn là cá biệt nữa. Dưới đây là một vài "cuộc tình nhí:" nhưng đều "lâm ly" như phim ảnh khiến mỗi chúng ta phải suy nghĩ:

Linh và Sơn mới là học sinh lớp 9 của một trường bán công nhưng đã có gần 2 năm yêu nhau. Thoạt đầu, thầy cô rất bực mình và ngỡ ngàng thấy cả hai tay trong tay, vai kề vai ngay trong giờ học nên đã phải phê bình và thay đổi chỗ ngồi. Nhưng giải pháp ấy  có vẻ không ăn thua nên đã buộc thầy cô phải mời bố mẹ đến để bàn biện pháo giáo dục. Trước sự can thiệp của bố mẹ và thầy cô, Linh và Sơn đã tuyên bố thẳng thừng "Nếu nhà trường và gia đình cố tình chia cắt thì cả hai sẽ rủ nhau cùng tự tử". Thế là thầy cô và bố mẹ đành phải cắn răng cho phép hai đứa được quyền... yêu, được thân mật quá trớn trong trường với điều kiện là hứa không để chuyện đáng tiếc xỷ ra trước khi tốt nghiệp THCS.

Tuấn và Hà học cùng trường THPT nhưng lại khác lớp, yêu nhau cũng đã được gần 2 năm. Mỗi buổi học ngồi trong lớp nhưng tâm trí thì đang để ở chốn nào không biết. Cả hai cùng là con nhà khá giả, sống ở thành phố nên đều được bố mẹ trang bị cho điện thoại di động. Đương nhiên chiếc điện thoại đã là phương tiện liên lạc cho nhau, suốt cả giờ học. Thầy cô và cả bạn bè nhiều lần nhắc nhở, thậm chí phải xử lý mạnh, mời phụ huynh đến và yêu cầu tắt máy trong giờ học... nhưng đều vô hiệu. Hơn thế, cả hai đã phản ứng bằng cách lấy trộm tiền của cha mẹ, bán cả xe và điện thoại để lấy tiền trốn vào Sài Gòn tiêu xài bên nhau. Nhưng kết cục thì sao, đôi "Romeo - Ruliet" này cũng phải nhanh chóng quay về với những cái túi rỗng tuyếch. Lúc này cha mẹ hai bên đành "ngậm đắng nuốt cay" mà hợp thức hóa bằng một đám cưới chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng chỉ ngay năm sau thì gia đình nhí này cũng tan vỡ; ông chồng không biết làm bố, vẫn còn ham chơi; bà mẹ trẻ không biết ôm con. Cuối cùng họ đành phải gửi con để ông bà nuôi, rồi chia tay để đi học tiếp.

Quang và Linh đang học cùng lớp 10 của một trường dân lập, đã yêu nhau ngay từ ngày đầu bước vào lớp. Từ những ngày sau đó, hai cô cậu đều thức dậy từ 4 giờ sáng để rủ nhau cùng chạy bộ. Nhưng tập thể dục chỉ là cái cớ, thực chất cô cậu kéo nhau đi đến chỗ vắng vẻ để "tâm sự" đầu sát má kề. Đến ngày bố mẹ của Linh phát hiện con mình có bạn trai thì họ đã đến trương trách móc thầy cô đã khong dạy dỗ học trò nghiêm khắc, để chúng yêu đương nhăng nhít (thực chất thì nhà trường có mời phụ huynh của Quang và Linh đến để nói chuyện nhưng họ đã không đến). Linh đã cảm thấy xấu hổ khi mẹ đến lớp làm ầm chuyện đó nên đã bỏ nhà, bỏ học đi bụi. Quang thương người yêu nên đã bỏ đi theo, nhưng lang thang mãi thì không được nên nửa đêm cậu đã dắt người yêu về nhà mình xin ngủ nhờ. Biết được con gái lại ở nhà bạn trai, bà mẹ lại đến tận nơi làm ầm ĩ, vu cáo cho Quang dụ dỗ trẻ vị thành niên. Nhưng rồi hai gia đình cũng tìm mọi cách để chia rẽ hai cô cậu và lại được đáp lại bằng sự phản ứng tiêu cực "Sẵn sàng từ bỏ gia đình, chứ thề khồng bỏ người yêu".

Quả là một xã hội mà lối sống của giới trẻ đang có ảnh hưởng rất nhiều từ phim ảnh, âm nhạc, sách báo... thì thật khó tránh khỏi sự học đòi, ngộ nhận. Họ nhanh chóng đi vào chuyện yêu đương trong những cuộc đi chơi ngẫu hứng, nhưng buổi liên hoan ở bên ngoài. Chỉ cần một vài câu tỏ tình đại loại "Tớ thích cậu", "Tớ yêu cậu được không?"... thế là thành một cuộc tình. Thậm chí chỉ cần vài câu chọ ghẹo ngớ ngẩn, vài mẩu thư tình lâm ly bi đát, vài bài hát rẻ tiền... Cũng đủ khiến cho các cô cậu rung động trái tim rồi, tưởng rằng chỉ cần nói "I love you, I need you... !" đã đủ là yêu. Phần lớn những cô cậu ấy còn chưa có chút kiến thức nào về tâm sinh lý lứa tuổi để tự bảo vệ chính mình nhưng lại vô cùng liều lĩnh trong những hành vi của mình. Họ chẳng ngần ngại tuyên bố, thách thức, "một mất một còn" với gia đình, nhà trường, bè bạn... để được sống theo ý thích của mình.

Tại một phòng khám phụ sản tư nhân ở Hà Nội, chúng tôi đã chứng kiến cảnh 3 cô gái mặt còn búng ra sữa, cười nói vui vẻ bước vào. Chẳng khó khăn gì để biết được hai trong số ba cô gái trẻ ấy đến là để giải quyết cái mầm thai đang lớn dần lên trong bụng. Nghe câu chuyện giữa ba cô gái với bác sỹ thì đây đã là lần thứ 3, thứ 4 các cô đi hút thai. Nhưng thái độ mà các cô thể hiện thì chẳng ai nghĩ là đang có chuyện vui vẻ, nói cười náo nhiệt cả phòng khám. Chốc chốc điện thoại di động của một trong ba cô lại reng reng, đi ra đi vào nghe điện, chắc là của bạn trai. Sau một hồi thì tôi cũng bắt chuyện được với một trong ba cô gái còn quá trẻ ấy. Cô rất tự nhiên cởi mở, vừa nghịch điện thoại vừa nói chuyện với tôi, cô khẳng định "Đây là địa điểm khám phụ khoa và nạo hút thai rất có uy tín. Cô bác sỹ ở đây hơi khó tính nhưng làm rất cẩn thận, sạch sẽ và an toàn".

Tôi đã tỏ vẻ băn khoăn và có chút cảm thông để hỏi "Nạo hút thai đau thế sao các em chịu được, sao không dùng biện pháp tránh thai có hơn không? Nhưng cô gái đã cười "xuỳ" "Chỉ đau một chút thôi, chỉ như hút điều hòa kinh nguyệt thôi mà. Bọn em biết sớm làm sớm thì chẳng vấn đề gì cả. Thực ra bọn em cũng muốn dùng biện pháp tránh thai nhưng uống thuốc thì sợ mẹ phát hiện, còn dùng bao cao su thì bạn trai không thích vì vướng víu và mất cảm hứng. Chính vì vậy mà bọn em bị "dính" luôn". Khi được hỏi "Em có nghĩ là mình quá trẻ để làm những việc đó không" thì cô chẳng ngần ngại trả lời "Bây giờ lớp 6 lớp 7 đã biết yêu, đã biết đi nhà nghỉ và cũng biết cả... nạo hút thai. Bọn em học lớp 11 mà bây giờ mới biết là lạc hậu lắm rồi. Với lại, thời đại này đã yêu thì phải yêu cho hết mình chứ".

Câu chuyện của ba cô gái trên chỉ là một "chuyện nhỏ trong 1001 chuyện liên quan đến vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và nạo hút thai vị thành niên mà các cuộc nghiên cứu đã thống kê được.

Những cuộc tình "nóng vội" ấy sẽ đi đến đâu hay là chỉ nhận được những kết cục bi thảm? Điều đó có lẽ hoàn toàn có ý, vì hầu hết các em đều chưa chín chắn, nếu không muốn nói là "ngây dại" khi bước vào tình yêu. Ban đầu là thi vị hóa tình yêu, sau đến là đi vào tình yêu thực dụng thể xác, nhưng lại không hề lường được những hậu quả đang chất chứa bên trong. Sẽ thật sự nguy hiểm nếu bước vào tình yêu theo kiểu của một học sinh lớp 9 "Khi yêu thì phải dâng hiến thì mới gọi là yêu". Có lẽ bản thân các cô cậu đang "tuổi ăn tuổi lớn" ấy còn chưa hiểu thế nào là sự "dâng hiến" với một ý nghĩa trong sáng, tốt đẹp, để rồi sống thì đủng đỉnh còn yêu thì vội vàng.



*

VŨ THỊ HƯƠNG MAI

Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319

quận Long Biên, thành phố Hà Nội.  

Email: huongmai8081@yahoo.com.vn



Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

CA KHÚC XUÂN BOLÉRO ĐI QUA TRONG CHIẾN TRANH - TRẦN HỮU NGƯ

 

Bài này đã được đăng trong Giai phẩm Xuân Giáp Thìn 2024 TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI (Vietnamese Magazine), do nhóm anh chị em Văn-Nghệ-Sĩ miền Nam Việt Nam định cư ở Mỹ chủ trương và phát hành hàng tháng.
Đây là bài thứ 3 được đăng trong tạp chí này.




CA KHÚC XUÂN
BOLÉRO ĐI QUA TRONG CHIẾN TRANH.
Mỗi khi Xuân về, Tết đến, lo gì thì lo, nghĩ gì thì nghĩ, nhưng nhiều người vẫn cứ phải tìm đến món ăn tinh thần là nghe nhạc Xuân. Nhạc Xuân một thời hân hoan, nô nức đi qua trong Chiến tranh, nay Hòa bình, nhạc Xuân vẫn là những ca khúc khó quên.
Nhìn chung, ca khúc viết về Xuân đa dạng, đa sắc màu, đa nhịp điệu, đa cung bậc. Những tiết điệu Tango, Rumba, Valse, Slow... đã làm cho những bài hát Xuân được đánh lên từ những ca từ thân yêu mang tâm trạng của một không khí Xuân đem đến cho mọi người không phân biệt thành phần xã hội. Lẫn trong những nhịp điệu này, Boléro lại là giai điệu làm nên tên tuổi quen thuộc trong những ca khúc viết về ngày Tết.
Nhưng nhạc Tết Boléro - những ca khúc hay - chỉ đếm trên đầu ngón tay? Dẫu là số ít, nhưng ca khúc Xuân Boléro vẫn là những bài hát dù trải qua biết bao thăng trầm, dâu bể cuộc đời, lịch sử đã sang trang, đi qua hơn nửa thế kỷ Xuân, nhưng mỗi khi Tết đến, Boléro Xuân vẫn là những bài hát mang những tiếng ca Xuân bay khắp thành thị cho đến thôn làng, vui vầy xum hợp bên mâm cơm, chén trà, gặp gỡ bạn bè, người thân chúc tụng nhau. Và Boléro Xuân như một người bạn quý hiếm mà không phải nhạc sĩ nào cũng có được?
Năm cũ đến hẹn rồi cũng đi qua nhường chỗ cho năm mới. Năm mới, nhìn chung cái gì cũng mới, chỉ có nhạc Xuân cũ là… cũ. Tất nhiên, cũ mà hay còn hơn mới mà dở! Nhạc sĩ Việt Nam từ già cho đến trẻ không phải ai cũng sáng tác được một bài hát Xuân, và những nhạc sĩ trẻ sau 1975 có viết nhạc Xuân nhưng cũng không thể sánh vai với lớp nhạc sĩ đi trước. Nói điều này, tất nhiên không vơ đũa cả nắm, vì có một ít ca khúc Xuân viết sau 75 đã làm người nghe xúc động, như “Mùa Xuân đầu tiên” của Văn Cao, ngoài nỗi buồn còn có niềm vui, nhưng có đôi khi “Vui sao nước mắt lại trào!”
Trở lại, nhạc Xuân khó viết. Tại sao?
Vì viết được, nhưng khó hay! Giai điệu thì được, nhưng ca từ hay, mới, lạ, diễn tả đúng tâm tư, tình cảm Xuân đem đến cho chúng ta những lộc non chồi biếc… mới là điều mà không phải nhạc sĩ nào cũng viết được. Như tưởng đơn giản, nhưng trong “Mùa Xuân đầu tiên” chỉ hai câu “Giờ đây người biết thương người, giờ đây người biết quê người” đã làm người nghe rơi nước mắt!
Nếu nói không cường điệu, quá lời thì các nhạc sĩ đàn anh đã dùng “chữ hay” hết rồi, nên những năm mới sau 75 không thấy nhạc Xuân mới, hay, vì lẽ đó chăng? Cho nên, vì không có nhạc mới hay, nên người ta đã đổi một vài từ “không còn thích hợp” trong nhạc cũ, như trường hợp nhạc phẩm “Câu chuyện đầu năm” của nhạc sĩ Hòai An chỉ cần sửa lại ba từ này là thay vì “đón thư nơi trận tiền”, thì sửa lại là “đón thư khắp mọi miền” mà tác phẩm vẫn lành lặn, tác giả của nó thì im lặng, thính giả vẫn thấy nghe… bình lặng!
Những bài nhạc cũ trước 1975 sửa để được phổ biến, ấy chẳng qua là một việc làm “chẳng đặng đừng”. Riêng nhạc Xuân sáng tác trước 75, chỉ nói riêng ba tình khúc Boléro được nhắc đến trong bài viết ngắn này - những bài hát đã thấm vào lòng người từ những năm tháng còn Chiến tranh - và những nhạc phẩm Xuân như trường hợp nhạc phẩm “Ly rượu mừng” (một bài hát không thể thiếu trong những ngày Tết, một món quà gởi tặng cho Sĩ-Nông-Công-Thương-Binh) qua bao năm ẩn mình chờ chết, nay đã được sống lại! (Dẫu vậy, nhưng Ly rượu mừng, thỉnh thoảng mới được hát, hình như, nếu được hát thường xuyên thì… sợ không ai nghe nhạc Xuân của những nhạc sĩ mới? Tôi nói nghiêm túc dành cho những nhạc sĩ nghiêm túc, không biết tự ái).
Nhạc Xuân Boléro ngày ấy là những bài ca đơn giản từ nốt nhạc cho đến ca từ, không màu mè triết lý thời thượng, không tham vọng, không đề cao chủ nghĩa cá nhân…, nhưng đây là những bài hát đong đầy những niềm vui, những mơ ước, những yêu thương, những chan chứa đất nước và con người vào Xuân. Không than van trách móc, giận hờn, chỉ là những gói ghém hạnh phúc, niềm vui nhỏ nhoi trước bề bộn lo toan của cuộc đời. Nghe nhạc Xuân trong ba ngày Tết để rũ bỏ phiền muộn, giận hờn, thua thiệt, được mất, đã đi qua trong một năm.
Ba ca khúc Boléro Xuân từ những ngày còn Chiến tranh rất xa của thế kỷ 20 đi qua, nhưng bây giờ nghe lại vẫn thấy đậm đà hương vị trong năm ba ngày Tết. Hình ảnh con người, non sông đất nước… làm nên những đường nét chấm phá của nhạc Xuân. Dù những trào lưu mới xâm thực, thời cuộc có thay đổi, nhưng phong tục Tết cổ truyền, tình người với Tết khó mà đổi thay, cho dù bể dâu, gian khổ đeo bám cuộc đời.
Nhắc lại ba ca khúc Xuân Boléro này như đốt lò hương cũ:
-Đầu năm đi lễ (Ngọc Sơn),
-Câu chuyện đầu năm (Hoài An),
-Cánh thiệp đầu Xuân (Lê Dinh – Minh Kỳ).
Có một điều hình như không hẹn mà gặp, đó là cách dùng tựa cho ba nhạc phẩm này đều có chữ “ĐẦU”. Tất cả những chữ “ĐẦU” ấy như kim chỉ nam dẫn đường, xuất phát của năm mới, một điểm khởi đầu, một hành trình ba trăm sáu mươi lăm ngày bằng những bước chân đi tới bình an, hạnh phúc:
“… Nửa đêm thức giấc phút giây bùi ngùi
Lặng nghe tâm hồn xao xuyến
Chân bước theo hồi chuông
Đêm Xuân em đi lễ
Quyện khói hương trầm lạc lối trong đêm Xuân
Buồn trong kỷ niệm
Ngày xưa hai đứa đêm Xuân đi lễ có nhau
Anh chọn màu áo cho em
Tình yêu chớm nở của chúng mình
Đêm nay Xuân về trên đất mẹ
Anh ơi, nơi chốn biên thùy anh biết Xuân về hay chưa…”
(Nhạc phẩm “Đầu năm đi lễ” của Ngọc Sơn).
Đi lễ ngày Xuân là phong tục, tập quán không chỉ ở người mộ đạo mà là nét văn hóa của tất cả mọi người đi tìm chốn an lành, sự che chở, đùm bọc từ cõi vô minh.
Nhạc sĩ Ngọc Sơn (Ông sinh năm 1934, một nhạc sĩ khá nổi tiếng với những ca khúc “Một trăm phần trăm”, “Khúc nhạc Brahms”, “Màu tím Pensée”…), và thật khó quên ca khúc “Đầu năm đi lễ” qua giọng ca Hương Lan không thể thiếu vào ngày đầu Xuân.




Và nhạc sĩ Hòai An (Ông tên là Nguyễn Đắc Tịnh, sinh 1929 tại Hải Phòng, qua đời năm 2012 tại Saigon Ca khúc tiêu biểu là “Trăng về thôn dã”, “Tình lúa duyên trăng”, “Dựng một mùa hoa”, “Hương nhạc đồng quê”). Trong nhạc phẩm “Câu chuyện đầu năm” Hoài An cũng đã dẫn chúng ta đi lễ đầu năm:
“… Trên đường đi lễ Xuân đầu năm
Qua một năm ruột rối tơ tằm
Năm mới nhiều ước vọng chờ mong
May nhiều rủi ít ngóng trông
Vui cùng pháo đỏ rượu hồng…
Xin khấn nguyện kết chặt tình thân
Vin cành lộc những bâng khuâng
Năm này chắc gặp tình quân…
Xuân đi rồi Xuân đến
Bao la nguồn yêu mới
Như hoa mai nở phơi phới…”
Nhưng thời buổi bây giờ, người ta đã vô tình giết chết một nét văn hóa đã được gìn giữ bao đời, nay bị lãng quên trước làn sóng công nghệ thông tin tràn ngâp:
“CÁNH THIỆP ĐẦU XUÂN”.
Ngày xưa, từ Rằm tháng 12 âm lịch, Thiệp chúc Tết bán đầy các sạp báo, nhà sách. To nhỏ, màu sắc đa dạng, mua bỏ vào phong bì chúc Tết gởi đi khắp mọi miền. Chọn Thiệp chúc Tết, lên danh sách bạn bè, thầy cô, chú bác, anh chị… một sự nô nức vui như… ngày Tết!
Một bài nhạc Xuân Boléro rất chắc tay, một lời chúc chắc nịch trong ca từ chắt chiu, đó là ca khúc “Cánh thiệp đầu Xuân” của Lê Dinh (1934-2020) và Minh Kỳ (1930-1975). Hai nhạc sĩ này đã đóng góp vào gia tài âm nhạc miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung những ca khúc “Nỗi lòng Chiến tranh” đã đi vào lòng người. Ngày ấy, dù là thời chiến, nhưng “Cánh thiệp đầu Xuân” nghe rất Thanh bình:
“… Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này
Khi nắng vàng phai nhuộm làn tóc ai
Khi gió nhẹ lay hoa đào nồng thắm
Trong khi Xuân đến mới tô đẹp tháng năm…
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái xuân thì
Ước nguyện sao chóng thành
Rượu hồng se duyên…”
Trước 1975, ba nhạc phẩn Xuân Boléro nêu trên là những bài hát “đinh” trong ba ngày Tết. Điều thú vị nữa là trong ba nhạc phẩm này đều tôn vinh người phụ nữ, có lẽ Xuân mà thiếu phụ nữ thì mất Xuân chăng, nên người đời mới gọi là Nàng Xuân?
Năm mới, nghe nhạc Xuân để lòng khuây khoa đón Tết và rước Nàng Xuân.


THN

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2024

THƠ ĐƯA ÔNG TÁO - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 


Góc Đường Thi :  

                              THƠ ĐƯA ÔNG TÁO
                      

      Như ta đã biết, để chuẩn bị "Ăn Tết" theo tục lệ của đời Đường Tống dân chúng đã chuẩn bị bắt đầu từ đầu Tháng Chạp rồi. Như trong truyện võ hiệp HIỆP KHÁCH HÀNH của nhà văn Kim Dung, hai sứ giả Thưởng Thiện Phạt Ác đã phát lệnh bài để mời các chưởng môn hay người cầm đầu bang hội đi đến Đảo Hiệp Khách để ăn "Cháo LẠP BÁT". 
      LẠP 臘 là LẠP NGUYỆT 臘月, ta gọi trại đi là Tháng CHẠP, là tháng 12 Âm lịch, tháng cuối cùng trong năm. BÁT 八 là số Tám, là ngày Mùng Tám; nên LẠP BÁT 臘八 là ngày "Mùng Tám Tháng Chạp". CHÁO LẠP BÁT là Cháo được nấu vào ngày mùng tám tháng chạp. Đó là loại cháo được nấu bằng tất cả nông phẩm mà cuối năm thu hoạch được, như các loại gạo, các loại đậu, cải khô, nho khô... 
      Sau lễ Lạp Bát thì bắt đầu quét dọn nhà cửa từ trước tới sau cho sạch sẽ ngay ngắn để chuẩn bị "Quá Tiểu Niên" là "Ăn Tết Sớm" vào ngày 23 và 24 tháng Chạp, cũng là ngày cúng tế đưa tiễn Táo Quân lên Trời. Nên sau ngày đưa ông Táo về Trời thì không còn quét dọn gì nữa cả và tất cả các bàn thờ cũng khỏi thắp nhang, cho đến ngày 30 Tết cúng Rước Ông Bà về Ăn Tết mới thắp nhang trở lại.
      Vì cúng tế Táo Quân là "Ăn Tết Sớm" nên những nhà khá giả cúng rất long trọng, và khi cúng xong thì mời cả bà con lối xóm đến cùng Ăn Tết cho vui. Ta đọc bài thơ 《TẾ TÁO DỮ LÂN KHÚC TÁN PHÚC 祭灶與鄰曲散福》của Lục Du 陸游 (Lục Phóng Ông 陸放翁) đời Nam Tống dưới đây thì sẽ rõ :

          祭灶與鄰曲散福      TẾ TÁO DỮ LÂN KHÚC TÁN PHÚC

          已幸懸車示子孫,    Dĩ hạnh huyền xa thị tử tôn,
          正須祭灶請比鄰。    Chính tu tế Táo thỉnh tỉ lân.
          歲時風俗相傳久,    Tuế thời phong tục tương truyền cửu,
          賓主歡娛一笑新。    Tân chủ hoan ngu nhất tiếu tân.
          雪鬢坐深知敬老,    Tuyết mấn tôa thâm tri kính lão,
          瓦盆酌滿不羞貧。    Ngõa bồn chước mãn bất tu bần.
          問君此夕茅檐底,    Vấn quân thử tịch mao thiềm đễ,
          何似原頭樂社神.     Hà tự nguyên đầu lạc xã thần ?



                             Lục Du thi nhân đời Tống

*Chú thích :
   - Lân Khúc 鄰曲 : là Lối xóm, là Bà con hàng xóm như từ Tỉ Lân 比鄰 bên dưới.
   - Tán Phúc 散福 : là Cúng xong rồi chia đồ ăn hay mời mọi người cùng ăn, gọi là Tán Phúc, là phát tán cái phước cho tất cả mọi người.
   - Huyền Xa 懸車 : là Treo cái xe lên (không đi nữa); ý mói đã Về hưu.
   - Hoan Ngu 歡娛 : là Vui chơi giải trí.
   - Tọa Thâm 坐深 : là Ngồi sâu, ngồi sát vảo lưng ghế có dựa.
   - Ngõa Bồn 瓦盆 : là Cái chậu sành, chậu bằng đồ gốm.
   - Lạc Xã Thần 樂社神 : Cái niềm vui khi cúng thần làng, đình thần.

* Nghĩa bài thơ :
                     CÚNG TÁO QUÂN CÙNG ĂN TẾT VỚI CHÒM XÓM
        May mà ta đã về hưu rồi nên mới có dịp để tỏ bày cùng con cháu. Vừa đúng lúc phải cúng tế Táo Quân và mời chòn xóm cùng Ăn Tết. Đây là cái phong tục đã của cuối năm đã được truyền tụng lâu đời rồi. Chủ khách cùng vui chơi với nhau trong tiếng cười của năm mới. Những người tóc mai trắng như tuyết được mời ngồi một cách trịnh trọng để tỏ lòng kính trọng người già. Bồn chậu đựng đồ ăn và rượu đều được châm đầy nên cũng không thẹn vì nghèo túng. Thử hỏi bạn rằng đêm nay ngồi dưới mái hiên của căn nhà cỏ nầy, có được vui như lúc ban đầu khi ta cúng tế đình làng hay không ?




* Diễn Nôm :
                  TẾ TÁO DỮ LÂN KHÚC TÁN PHÚC
                   
                            Ăn Tết Sớm

                  May đã hồi hưu với cháu con,
                  Đúng khi tế Táo đãi cùng thôn.
                  Cuối năm phong tục xưa truyền lại,
                  Chủ khách cười vui mới hãy còn...
                  Kính lão tóc mai đà bạc trắng,
                  Không hiềm rượu thịt mãi đầy luôn.
                  Dười hiên mái lá đêm nay nhậu,
                  Vui có như khi cúng Xã Thần ? 
     Lục bát :
                  Về hưu tỏ với cháu con,
                  Nhằm khi tế Táo xóm thôn đãi đằng.
                  Cuối năm phong tục đã hằng,
                  Cùng nhau chủ khách bao lần cười vui.
                  Tóc mây kính lão mời ngồi,
                  Đầy mâm rượu thịt đãi người chung quanh.
                  Đêm nay mái lá nhà tranh,
                  Có vui như lúc tế đình khi nao ?
                                                  Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm


                                  Tôn Tung 孫嵩
  
       Trong khi Lục Du tế Táo với cháu con và hàng xóm một cách vui vẻ trong tuổi già khi đã hồi hưu, thì TÔN TUNG cũng là một thi nhân đời Tống vì chữ công danh mà còn kẹt lại ở kinh thành không thể về quê để tống tiễn Táo Quân và đón Tết được. Ta cùng đọc bài thơ "Hành Đô Tiền Tuế 行都錢歲" của Tôn Tung 孫嵩 sau đây : 

           插架餘殘曆,    Tháp giá dư tàn lịch,
           挑燈憶故鄉。    Khiêu đăng ức cố hương.
           年光蛇赴壑,    Niên quang xà phó hác,
           羈旅雁随陽。    Ký lữ nhạn tùy dương.
           禁闕迎儺鼓,    Cấm khuyết nghinh na cổ,
           鄰街祭灶香。    Lân giai tế táo hương.
           英雄須自力,    Anh hùng tu tự lực,
           容易鬓毛蒼。    Dung dị mấn mao thương !

           


 
      Nhìn lên trên giá chỉ thấy tấm lịch sắp tàn tạ. Khêu đèn lên cho sáng lại càng thấy nhớ cố hương. Thiều quang của một năm giống như con rắn đang bò vào hang hốc, chỉ phút chốc là mất tăm. Người lữ hành đang ở xa quê hương muốn 
được như con chim nhạn bay về nam theo ánh mặt trời ấm áp. Trong cung cấm đang vang lên tiếng trống xua đuổi tà ma xui xẻo để đón mừng năm mới, con đường kế bên lại thoang thoảng mùi hương đưa tiễn Táo quân. Anh hùng vốn phải tự lực cánh sinh, nhưng trước cảnh Tết phải xa nhà nầy cũng dễ khiến cho con người ta bạc đầu lắm lắm !
       Càng già, con người ta càng cảm thấy rằng không phải thời gian qua quá mau, mà thời gian càng ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với con người !

* Diễn Nôm :



                 
                   HÀNH ĐÔ TIỀN TUẾ

                  Lịch tàn trên giá sách,
                  Khêu đèn nhớ cố hương.
                  Thiều quang như rắn lượn,
                  Lòng quê tợ nhạn sương.
                  Cung cấm vang tiếng trống,
                  Ngoài phố thoảng Táo hương.
                  Anh hùng nên tự lực,
                  Tóc mai tựa tuyết sương !
     Lục bát :
                  Trên tường giá lịch sắp tàn,
                  Khêu đền lòng nhớ ngút ngàn quê xa.
                  Thiều quang như rắn lượn qua,
                  Theo hơi nắng ấm nhạn xà về nam.
                  Trong cung trống tế vang vang,
                  Bên đường tống Táo hương nhang ngạt ngào.
                  Anh hùng tự lực tự cao,
                  Tóc mai dễ bạc khác nào tuyết sương.
                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

       Nói đến thơ đưa Ông Táo, ta cũng không thể không nhắc đến bài "Tống Táo Thi" của Lữ Mông Chính, người mà trong "Hàn Nho Phong Vị Phú" Nguyễn Công Trứ đã viết như thế nầy :    

       .... Khó ai bằng Mãi Thần, Mông Chính, cũng có khi ngựa 
             cởi dù che. ...

      Sau đây, ta thử tìm hiểu cuộc đời nghèo khó và bài thơ đưa ông Táo nổi tiếng của ông nhé !... 
      LỮ MÔNG CHÍNH 呂蒙正 (944-1011), Tự là Thánh Công 聖功, người đất Lạc Dương tỉnh Hà Nam, đậu Trạng Nguyên năm Đinh Sửu đời Tống Thế Tôn năm 977. Sau khi đỗ Trạng, Lữ Mông Chính đã từng giữ các chức vụ Giám Thừa, Thông Phán, Trứ Tác Lang, Tả Bổ Khuyết, Tham Tri Chính Sự. Năm 988, Lữ nhậm chức Tể Tướng. Bệnh mất năm Đại Trung Tường Phù thứ 4 (1011), hưởng thọ 67 tuổi.  Truyện kể...
          
               

                         Lữ Mông Chính tế Táo trong phim ảnh

     Sau khi cha mất, gia cảnh ngày một suy vi. Lữ Mông Chính cùng mẹ phải tạm trú ngụ trong một lò gạch cũ, làm nghề ăn xin độ nhật.
     Một hôm, thấy trước cửa quan Tể Tướng đông nghịt những người, chen chút nhau rất náo nhiệt. Lữ cũng chen vào để xem, tình cờ một vật gì đó từ trên trời bay xuống rớt đúng vào lòng. Thì ra, thiên kim tiểu thơ của quan Tể Tướng là Lưu Nguyệt Nga 劉月娥 đang gieo tú cầu để tìm người hôn phối. Vật bay vào lòng Lữ là trái tú cầu được Lưu tiểu thơ ném từ trên lầu xuống....
     Dĩ nhiên là ông bà Tể Tướng không chịu chấp nhận hôn sự nầy, nhưng tiểu thơ Nguyệt Nga thì lại kiên trì chấp nhận từ bỏ tất cả để đi theo Lữ về sống ở lò gạch bể, vì nàng cho đây là duyên trời định và hơn nữa không thể bội tín được.
    Cuối năm đó, đến ngày đưa ông Táo, không hiểu là Lữ Mông Chính đã năn nỉ như thế nào mà ông hàng thịt bán chịu cho một miếng thịt đem về luộc để cúng ông Táo. Nhưng khi bà hàng thịt biết được việc nầy bèn mắng cho ông chồng một trận nên thân :"Nó nghèo kiết xác, làm sao có tiền trả mà bán chịu ?!". Bà ta tức tốc chạy đến lò gạch, thấy miếng thịt đang luộc dở dang trên bếp, bèn hứ một tiếng rồi vớt lấy miếng thịt đem về !. Đến nước nầy, Lữ chỉ còn biết đổ nước luộc thịt vào tô mà đưa tiễn ông Táo về trời thôi. 
    Trong khi thắp hương để cúng ông Táo, vì cảm khái trước cái nghèo khó của mình và cũng cảm khái trước cái nhân tình thế thái, Lữ Mông Chính đã làm bài thơ tiễn Ông Táo sau đây :

      一碗清湯詩一篇,    Nhất oản thanh thang thi nhất thiên,
      灶君今日上朝天;    Táo Quân kim nhật thướng triều thiên.
      玉皇若問人間事,    Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,
      為道文章不值錢。    Vị đạo văn chương bất trị tiền !  

* Có nghĩa :
        Một bát canh trong cùng một bài thơ, hôm nay ta đưa tiễn Táo Quân về để chầu Trời. Nếu như Ngọc Hoàng có hỏi đến chuyện của dân gian, thì xin ông hãy vì ta mà đáp rằng, văn chương không đáng giá đồng xu cắc bạc nào cả !

* Diễn Nôm :

                  Một bát nước canh thơ một liên,
                  Chầu Trời tiễn Táo đến cửa thiên.
                  Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự,
                  Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền !
                                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
 
     Câu chót của bài thơ làm ta nhớ đến câu thơ lên Hầu Trời của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
               Văn chương hạ giới rẻ như bèo !....

     Trở lại chuyện của Lữ Mông Chính, theo truyền thuyết dân gian thì....

    ....Năm đó, sau khi Táo của các nhà đã báo cáo xong, mà đợi mãi vẫn không thấy Táo của lò gạch nơi Lữ cư ngụ. Mọi người đang nóng ruột, thì thấy Táo của Lữ Mông Chính mặt mà xanh lè, đi cà lếch cà lếch vào chầu. Ngọc Hoàng phán hỏi tại sao, thì được trả lời rằng : " Thần chỉ uống có một tô nước thịt luộc dở dang chưa chín, đã đói lại còn bị... chột bụng nên đi không nổi. ", đoạn trình bài thơ của Lữ lên cho Ngọc Hoàng xem. Ngọc Hoàng phán rằng, số của Lữ sẽ đậu Trạng Nguyên vào khoa sau, đừng lo lắng quá ! Thần Táo mới năn nỉ rằng : " Anh ta đói quá, sợ sống không nổi đến khoa sau đâu, thôi thì trước sau gì cũng đậu, xin Ngọc Hoàng thương tình.  Ngọc Hoàng bèn sai Nam Tào đem sổ sửa lại cho Lữ đậu ngay khoa nầy, vì thế mà Lữ Mông Chính mới đậu được Trạng Nguyên của khoa Đinh Sửu 977 là vậy !

                        L Mông Chính và bài thơ Tế Táo

    Trên đây là theo truyền Thuyết dân gian, chớ thực sự thì... Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thường có bóng dáng của một người đàn bà, còn ở đây, đằng sau sự đậu đạt của Lữ Mông Chính, có tới  bóng dáng của 2 người đàn bà lận : Một là Lưu tiểu thơ; Hai là bà Tể Tướng phu nhân, vì thương con gái mà lén chu cấp đầy đủ vật chất cho con và rể sinh sống, vì vậy Lữ mới yên tâm mà dùi mài kinh sử... chứ đói meo thì làm sao đủ sức mà học hành để đậu Trạng Nguyên cho được !
    Đây là ông Tể Tướng xuất thân từ khất cái (Ăn mày) duy nhất của lịch sử Trung Hoa trong đời nhà Tống : Lữ Mông Chính.

    Cầu chúc cho tất cả mọi người đưa tiễn Táo Quân và Ăn Tết Sớm vui vẻ trước khi ĂN TẾT THẬT vào ngày Nguyên Đán của năm Giáp Thìn 2024 nầy !

    Hẹn bài viết tới !

                                         杜紹德
                                   ĐỖ CHIÊU ĐỨC


EM ĐI GIỮA RỪNG THU - NHẠC LÊ HỮU NGHĨA







EM ĐI GIỮA RỪNG THU
NHẠC & LỜI LÊ HỮU NGHĨA
TRÌNH BÀY NGỌC QUY
HOÀ ÂM & VIDEO PHAN ĐÊ