CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

CHÙM THƠ KIẾM KHÁCH

 




XUÂN 2025

Xuân lại đến
Mới đó mà
Anh cổ tích em cũng là cổ tích
Tình xưa xuân chớm mai tròn nụ
Hẹn nỗi tàn thu giọt mưa ngâu.


ÁO MƠ PHAI RỒI

Ủ chiều cất rượu men cay
Tà huy lụa mỏng áo phai mơ rồi
Cũng từ ngõ ý thế thôi
Mà qua dâu bể ngăn đôi chung đường
Cầu tre nhịp bắt qua mương
Có con cá lội nhớ thương nẻo về.


RƯỢU TÀ HUY

Mời nhau chén rượu tà huy
Biệt xa vạn dặm có khuya khoắt lòng?
Còn mong chi nữa mà mong
Vàng phơn phớt nắng chiều trông từng chiều.

MÙA XUÂN 1983
Nắng ấm vàng Cơn gió mát Không khí trong lành Trời rộng thênh thang Con đường dài... Bước chân không mỏi Lối quen mòn khúc hát tình yêu Có em Có bếp lửa bàn tay mẹ nhóm Bữa cơm nghèo rau sắn thật ngon Thế mà Bây giờ Lụy khung cửa hẹp khép đời chung thân.

KIẾM KHÁCH


Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

NHỮNG CON ĐÒ QUÊ HƯƠNG - TRẦN HỮU NGƯ

 




NHỮNG CON ĐÒ QUÊ HƯƠNG
Một bài viết cũ, nhưng hôm nay Mùng Tám Tết, tình cờ đọc thấy bức hình dưới đây, ghi chú: Chợ Tết trong nạn đói năm 1945 của tác giả Thiên Mỹ (Trích trong tiểu thuyết “Ngẩng mặt thấy trời xanh).
Xin đăng lại bài này và có sửa chữa, bổ túc thêm những điều còn thiếu sót.
Sông, suối, hồ, ao, là nét đặc trưng của những làng quê ở thế kỷ 20.
Thôn làng, tỉnh thành nào có sông suối chảy qua, là nơi đó có một đời sống trù phú hơn. Nhưng ngày nay, ao hồ sông suối còn rất ít, vì đắp đập ngăn sông, cho nên hình ảnh những con đò quê hương đã không còn nữa. Ngày xưa, hai làng, hai xã chỉ cách nhau một con sông, qua lại, trao đổi phải dùng phương tiện chuyên chở bằng con đò. Gọi đò, chờ đò, là chuyện thường ngày ở bến đò.
Ngày nay, thay con đò là những chiếc cầu “nối những bờ vui”!
Tiếng Việt phong phú, đa nghĩa: Nhỏ là con đò, lớn một chút là ghe, lớn hơn ghe là thuyền, lớn hơn thuyền là tàu, và có một vật tròn dùng đánh bắt cá trên sông, biển, đưa người qua sông, đó là chiếc thúng chai. Tại sao là thúng chai? Đơn giản, thúng đan bằng tre và chống vô nước bằng cách trét chai (Một loại mủ của cây chò, nên mới đặt tên là thúng chai?).
Con đò quê hương không thể thiếu ở một nơi có sông rạch, nhưng ngày nay hình ảnh con đò dần dần biến mất vì người ta đã xây được cầu, và nếu còn đò thì cũng không ai dám chèo vì sông rạch bây giờ có vẽ hung hãn, dữ tợn hơn vì con sông muốn trả thù bàn tay tàn phá rừng của con người?
Con đò quê hương là đưa người ta sang sông:
-“… Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thẳm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?…”
(Tống biệt hành của Thâm Tâm).
Nói về chèo đò thì có hai hạng người khác nhau. Hễ đàn ông đưa đò là ông lão, còn ngược lại nếu là đàn bà thì phải thiếu nữ, có lẽ một ông lão có sức khỏe bằng một cô thiếu nữ chăng? Một “Chuyện tình cô lái đò Bến Hạ” (Hoàng Thi Thơ), một “Cô lái đò” (Nguyễn Đình Phúc phổ thơ Nguyễn Bính), một “Đò chiều” (Trúc Phương), “Đôi mái chèo trăng” (Y vân), “Trăng rụng xuống cầu” Hoàng Thi Thơ… Nhưng “Ông lái đò” (Hiếu Nghĩa), “Con đò đưa xác” (Ngọc Bích)… lại là ông già!
Nhạc đưa đò còn nhiều, nhưng trong bài viết này, người viết chỉ nhắc đến hai nhạc phẩm “Ông lái đò” và “Con đò đưa xác”, hai hình ảnh trái ngược nhau: một đưa khách, một đưa xác.
Có thể nói “Ông lái đò” là một trường ca. Mở đầu là ngâm thơ:
“Tôi đã gặp một chiều trên bến nước…”.
-Đoạn giữa: “… Và cứ thế giòng đời trôi lặng lẽ…”.
-Đoạn cuối: “… Họ về đây bụi vươn mình trên nếp áo…”.
Một bài hát buồn thảm nỗi cô quạnh, cô đơn, nghèo khổ, mà ông lái đò chỉ muốn “cuộc đời xưa đen tối, xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng”. Và ông trách người qua sông:
“… Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá
Trả công ông để lại một vài xu
Họ với ông hai cảnh đời xa lạ
Sang sông rồi không một tiếng phân ưu…”.
(Tôi không có bản chính bài hát “Ông lái đò”, sao lại “Qua sông rồi không một tiếng “Phân ưu”? Tôi nghe một vài ca sĩ nhất là Hùng Cường cũng hát “Phân ưu” (Ca sĩ Hùng Cường hát bài này đạt yêu cầu). Sao lại “Phân ưu”? Cuộc đời ông lái đò có buồn thật, có nghèo thật, nhưng đâu đến nỗi phải phân ưu? Thường thì câu “Phân ưu” dùng cho người chết mà? Tìm bản nhạc gốc đăng trên mạng, đúng là “phân ưu”, nhưng “phân ưu” của nhạc sĩ Hiếu Nghĩa ở đây có phải là “chia sẻ nỗi buồn cùng với ông lái đò” chăng?
Những tài liệu để lại về nhạc sĩ Hiếu Nghĩa quá ít, chỉ một vài dòng ngắn gọn, nhưng tôi thấy có nói đến một nhạc phẩm nữa của ông viết trong thời kháng chiến chống Pháp, đó là “Chàng đi theo nước”, mà tôi đã biết hát từ cái thời còn rất nhỏ ở một vùng rừng núi, mà không biết tác giả, trong giai điệu rất chậm:
“… Chiều hôm ấy chàng bước chân đi
Theo hồn nước tình duyên nhớ chi
Bao lời nói lòng em vẫn ghi
Xuân về mai nở vàng ngoài sân mới về
Lòng em say vì nhớ đến chàng
Đang hiên ngang tung hoành trong khói súng…”
Hai nhạc phẩm “Ông lái đò” và “Chàng đi theo nước”, viết với gai điệu và ca từ dễ ca, dễ thuộc, xuất hiện trong lúc nền âm nhạc còn thiếu thốn mọi bề, chứng tỏ ông là một nhạc sĩ có tài. Riêng “Ông lái đò” đã được dựng thành nhạc kịch. Rồi tôi tìm… có thêm một thông tin hiếm hoi nữa:
-Nhạc sĩ Hiếu Nghĩa sau 1975 kiếm sống bằng nghề xe ôm để nuôi một vợ sáu con, và ông chết vì tại nạn xe… ôm!
Nghe vậy thì biết vậy, nhưng khó kiểm chứng được. Và nếu đây là sự thật, thì đúng là “sinh nghề tử nghiệp”, nhưng không chết vì nhạc mà chết vì… xe ôm!
“Ông lái đò” của Hiếu Nghĩa là… Nghề, còn “Con đò đưa xác” của Ngọc Bích là… Nghiệp.
Nhạc sĩ Ngọc Bích khá quen thuộc với công chúng miền Nam. Ông có viết chung với Phạm Duy bài “Giấc mơ ngàn” và Xuân Tiên “Chờ một kiếp mai”. Riêng nhạc ông có “Bến đàn xuân”, “Bến nhạc lòng”, “Chiều tàn trong mắt em”, “Mộng chiều xuân”, “Trở về bến mơ”, “Con đò đưa xác”…
Ngọc Bích cũng giống Phạm Duy, khởi nghiệp là ca sĩ, ông tham gia kháng chiến chống Pháp cùng với Nhạc sĩ Nguyễn Hiền ở Liên Khu 3, và năm 1954 di cư vào Nam. Sau 1975, ông định cư ở Hoa Kỳ và mất năm 2001. Ở nước ngoài Ngọc Bích và Nguyễn Hiền thành lập ban nhạc Saion Band để giúp vui cho những người xa quê.
Trận đói năm Ất Dậu 1945 đã làm chết hai triệu dân miền Bắc. Các nhà sử học đã nói về vấn đề này rồi, và các nhiếp ảnh gia đã cũng cho chúng ta xem hình ảnh người chết đói, đó là trận đói lịch sử, điều đau đớn tột cùng là không phải thiên tai mà là do nhân tai! Chỉ có một bài hát duy nhất viết về cái chết lịch sử này, đó là “Con đò đưa xác” của Ngọc Bích (Viết chung lời với Nguyễn Văn Đức). Và bài thơ “Chiếc xe xác qua Phường Dạ Lạc” nói về trận đói này của nhạc sĩ Văn Cao:
“… Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Chập chờn áo hóa tà ma
Đôi dẫy hồng lâu của mở phấn sa
Rũ rượi tóc, những hình hài Địa Ngục
Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục
Tình tang nhịp gõ khóc đàn sương
Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường
Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thế
Ta đi giữa đường dương thế
Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây
Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy
Xác trụy lạc rũ bên thềm lá phủ…”
Nhưng tại sao mãi đến năm 1947 Ngọc Bích mới viết bài hát này? Có lẽ ông đã chờ nỗi đau tột cùng lắng xuống, mới đủ bình tĩnh để viết nên nhạc phẩm này, viết lại một nỗi đau, một thảm cảnh của đồng bào mình chết đói ngay trên cánh đồng lúa gạo phì nhiêu của mình?
Nghe “Con đò đưa xác” trong giọng hát liêu trai, đầy mộng mị, ma quái của Thanh Thúy, như một thước phim tư liệu chiếu chậm:
“… Ô hô! Ô hô! Con ơi mười mấy tuổi đầu
Vì chưng đói rét ngậm sầu thác oan!
Trong cơn heo may, ai thương vay, ai nức nở thế này
Mà trên sông vắng con đò cay đắng
Đưa xác người thầm than!...”.
Thời tiết lúc con đò đưa xác là một đêm trăng, có gió, có mưa:
“…Gió thổi thì thầm, mưa bay lâm tâm…
Trăng lên, mây tan, sao trăng đẹp thế này?
Mà trên sông vắng con đò cay đắng
Đưa xác người về đâu…
Chôn đi đâu lũ oan hồn…”.
Trong giai điệu cùng với sự hòa âm có tiếng cóc lóc của tiếng mõ, như sớm đưa các linh hồn được siêu thoát!
Viết đến đây, tôi nhớ “Hát trên xác người” của Trịnh Công Sơn :
“… Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người
Tôi đã thấy
Tôi đã thấy
Bên khu vườn một người mẹ ôm xác đứa con…”
Và tôi tự hỏi, chết vì chiến tranh, chết vì đói, cái nào tàn nhẫn vô nhân đạo hơn?


TRANHUUNGU


Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

CHÙM THƠ HUY VỤ

 



HỎI NGƯỜI XƯA

Xuân này em tới chợ Viềng không
Hãy uống giùm ta chén rượu nồng
Bao chục năm dài bao bận ngóng
Bấy nhiêu lần hội bấy lần trông
Tháng giêng gợi lại khung trời thắm
Mùng tám sao quên một bóng hồng
Từ buổi em về nơi xứ lạ
Trời làm cách núi với ngăn sông.


HUY VỤ
04/02/2025

*Lễ hội văn hóa "Chợ Viềng" Nam Định mỗi năm chỉ họp duy nhất một ngày 08 tết mua may bán rủi .


LỄ CHÙA

Thấy họ đi chùa Lúa cũng đi
Niệm thầm trong dạ Phật A Di
Hằng mong vận bĩ mau qua độ
Những ước thời hưng sớm tới kỳ
Nẻo đạo hanh thông điều tuệ giác
Xe đời nhẹ nhõm chuyến luân phi
Xuất hành năm mới cầu viên mãn
Muôn núi ngàn sông có ngại gì.

HV 03/02/2025


XÓT XA

So thời bao cấp những năm xưa
Mới biết giờ đây quá thãi thừa
Lắm kẻ hằng chê bôi thịt cá
Bao người còn quí trọng rau dưa
Mứt trà lủ khủ chen đầy kệ
Bánh kẹo tùm lum vứt phứa bừa
Bỗng thấy xót xa thương Tổ Phụ
Một đời đói khổ nắng dầm mưa.


HUY VỤ
03/02/2025

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

NHỮNG SỚM MAI QUÊ NHÀ - THƠ TỪ KẾ TƯỜNG

 


Tranh MAI TRUNG THỨ

NHỮNG SỚM MAI QUÊ NHÀ

Sớm mai. Ồ! Lại sớm mai
Đêm qua hết một canh dài. Tàn xuân
Sáng ra. Sương rớt ngập ngừng
Ngày trôi qua cửa. Nắng hừng đông lên

Hiên trà. Môi nhạt người quen
Vai nghiêng gió lẻ. Tay quên ngón gầy
Lá mồ côi rụng thêm dày
Vàng phai tiếng dế gáy ngày. Xa xưa

Thương mình. Đã đủ nắng mưa
Hoa xao xác cánh - Người đưa tiễn người
Tình cầm như nụ còn tươi
Soi trong giếng cũ. Môi cười nguyên sơ

Tìm em. Bóng đã không bờ
Hình sao lẩn khuất gương hờ. Ngược xuôi
Đầu xuân qua phố ngậm ngùi
Cuối thu về lại bên trời vàng phai

Sớm mai. Rồi lại. Sớm mai
Quê nhà ngõ trước - Sông dài vườn sau
Vẳng đưa tiếng sóng bạc đầu
Giọng gà cuối xóm gáy sầu vào trưa.



TỪ KẾ TƯỜNG


CHÚC TẾT - THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ





 

THƠ MẶC PHƯƠNG TỬ
GHÉP TRANH KIM OANH