CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

ĐÔI LỜI VỀ DỊCH THƠ ĐƯỜNG- NGUYỄN KHÔI








Bản đã sửa :

               ĐÔI LỜI VỀ DỊCH THƠ ĐƯỜNG
                 (Gửi : Nhà thơ Đỗ Trung Lai)


                                  -----------
  Nhà thơ Đỗ Trung Lai (sinh 1950 ở Phùng Xá, Mỹ Đức, Hà Tây cũ) vừa xb cuốn " 100 nhà thơ Đường- Đỗ Trung Lai soạn sách & dịch lại thơ", trước đó anh đã xb 3 cuốn tương tự về Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
  Cảm tưởng đầu tiên là trang trọng :ĐẸP cả về hình thức lẫn nội dung, xứng đáng là một tư liệu quý để ai đó thích nghiền ngẫm "Đường thi".
  Theo thiển ý của NK thì thành công chủ yếu của Đỗ Trung Lai là anh đã tạo được một sân chơi : thỏa mãn một nhu cầu là "tuyển" & "dịch" những Tác giả & Tác phẩm thơ Đường mà anh yêu thích để cống hiến cho bạn đọc thưởng thức hàng nghìn bài thơ Đường với nhiều bản dịch của nhiều Dịch giả có tên tuổi nổi tiếng và chưa nổi tiếng ? công phu lắm, tâm huyết lắm mới làm được như Đỗ Trung Lai !
  Tuy nhiên, do tuyển với số lượng lớn, mỗi bài lại có từ 2 đến 5 "Nhà dịch"- trong đó Đỗ Trung Lai thường là dịch 2 lần (1 theo thể Đường luật, 1 qua vần Lục bát) thì quả là không hề đơn giản, khó tránh khỏi các  thiếu sót...Ví dụ :
 * Bài "Thu phố ca" của Lý Bạch, thì bản dịch của Trúc Khê nổi tiếng lâu nay lại chưa được đưa vào :
    Tóc trắng ba ngàn trượng
    Vì buồn, dài lạ sao !
    Trong gương thật chẳng hiểu
    Sương thu vào lối nào !
        (Trang 31/ Lý Bạch. nxb Văn học Hà Nội 1992)
 * Bản diễn nôm  "Phong kiều dạ bạc" của Trương Kế là của Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867) tài hoa ngang ngửa với Thánh Quát, ông là  thầy dạy vua Thiệu Trị, chứ không phải của Tản Đà :
ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU
     Quạ kêu, trăng lặn, trời sương
Lửa chài le lói, sầu vương giấc hồ
     Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
               Nguyễn Hàm Ninh - diễn nôm
  Dị bản :
      Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ
       ...
  Dị bản :
      Quạ kêu, trăng lặn, sương mờ
Bên sông lão khách lập lòe lửa câu
...
* Bài "Trúc lý quán" của Vương Duy : ở đây cần phân biệt chữ "lý" (điền/thổ) là nơi ở, với chữ "lý" (mộc/tử) là cây mận, do đó "Trúc lý quán" là Dặm trúc, ở trong Võng Xuyên, nơi ẩn của Thi nhân.
        QUẤN TRÚC LÝ
Một mình trong đám trúc
Khảy đàn, huýt gió chơi !
Rừng sâu người chẳng biết
Chiều nhau, trăng sáng ngời.
              Đinh Vũ Ngọc (Hội An) dịch
*Bài LỘC SÀI  của Vương Duy :
Không sơn bất kiến nhân
Đãn văn nhân ngữ hưởng
Phản cảnh nhập thâm lâm
Phục chiếu thanh đài thượng.
-Lộc Sài (có bản đọc là "Lộc trại", có người cho là Trại nuôi hươu ?thực đó là 1 địa danh du ngoạn nằm trong vùng Võng Xuyên.
-Phản cảnh : từ Hán cổ, cảnh tức là ảnh,đồng thời có nghĩa là ánh sáng, nên "phản cảnh" là ánh sáng phản chiếu. :
  Núi vắng không bóng người
  Chợt nghe tiếng ai vang
  Nắng soi rừng núi thẳm
  Chiếu rạng đài rêu xanh.
           Vũ Thế Ngọc (Hoa kỳ) dịch
 Chao ôi, cái đặc sắc của Đường thi xưa nay làm các Thi nhân Việt bị "hút hồn" đó là vì sự điêu luyện của nghệ thuật thơ ca : sinh động & sâu sắc. "Các nghệ sĩ Đường thi thể hiện tâm trạng hay mô tả sự vật bao giờ cũng chỉ phác vài nét, không dùng nhiều ngôn từ, mà chủ yếu làm sao cho những lời, những chữ tưởng như cũ nhưng lại mang được ý nghĩa mới bằng cách so sánh, phát hiện tính tương đồng giữa nó với đối tượng mới" -(ý mới/ tứ lạ là thế). Cái tuyệt tác của "Tứ tuyệt" là sự kết hợp tài tình giữa cái tả cảnh & tả tình (Tình- cảnh- sự hài hòa làm nổi bật lên chủ đề) để toát ra cái "ý tại ngôn ngoại" để Người Việt ta tha  hồ "cảm" được cái thần diệu của Đường thi mà suy tưởng...có lẽ vì thế mà có "nhiều bản dịch" khác nhau, đọc đều thấy thích thú ? ! Ví dụ :
   Chỉ một câu " Đáo địa nhất vô thanh" của Vi Thừa Khánh, mà có nhiều "cách dịch" khá hay  :
-Chạm đất một tiếng thầm  (Nguyễn Khôi)
-Không lời trên đất vọng về nhân gian (Đỗ Trung Lai)
-Lúc rơi xuống đất tuyệt không tiếng gì (Tương Như)
-Lìa cành về đất không hề tiếng rơi ( Vũ Minh Tân)
-Lặng yên xuống đất một lời không than (Đinh Vũ Ngọc)
  Có một Dịch giả nổi tiếng (trước 1945) là Nhượng Tống ( VNQDĐ bị VM giết) đã dịch "Mái Tây" (Dưới mái tây hiên) của Vương Thực Phủ, nên thường in là NT.- không phải là Nam Trân,ông có nhiều bản dịch Đường thi được cho là có HẠNG ?
   NK có một điều băn khoăn là : "Thơ Đường 100 nhà" với "100 thi cách " độc đáo khác nhau mà lại do "1 Dịch giả (1 Nhà)" với 1 Thi cách ra công "dịch" thì e rằng vô hình chung đã lấy "thi cách-giọng điệu" của 1 nhà "úp" bao trùm (xào nấu-vo tròn) 100 Nhà thì cái "hồn cốt"- phong cách tiêng tây kia liệu  có còn giữ được cái "chất" độc đáo (như Thi tiên Lý Bạch, Thi thánh Đỗ Phủ, thơ ma Lý Hạ...) là bao nhiêu đây ?
  Đôi lời kết : công trình soạn sách & dịch lại Thơ Đường Của Đỗ Trung Lai thật à  ĐÁNG ĐỌC, chưa '' toàn bích'' thì cũng là lẽ thường tình , Bảng nhãn Lê Quý Đôn xưa đã từng răn dạy


   "Văn chương là của chung thiên hạ
   Ý mỗi người mỗi khác
    Phân tích thì được
   Chứ không nên chê mắng."
Đôi lời nông cạn, gọi là một chút cảm nghĩ chia sẻ...có điều gì bất cập xin được Nhà thơ - Dịch giả & các Bạn Thơ chỉ bảo.

   Góc thành nam Hà Nội 30-10-2014
           NGUYỄN KHÔI


Nguồn: từ email của TG Nguyễn Khôi gửi lamngoc
NM cảm ơn anh NK thường xuyên chia xẻ những bài viết hay.

-

   

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

ĐÊM ĐÔNG- THƠ NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA, NHẠC BÙI TUẤN ANH









ĐÊM ĐÔNG-
THƠ : NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA
 NHẠC: BÙI TUẤN ANH
HÒA ÂM: TRẦN NHÀN
CA SĨ : QUỐC DUY
VIDEO CLIP: PHÚ ĐOÀN


Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA-THƠ NHÃ MY- NHẠC THÁI THÀNH










TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA
THƠ: NHÃ MY
NHẠC: THÁI THÀNH 
HÒA ÂM: THÁI THÀNH
CA SĨ: SAO MAI
VIDEO CLIP: PHÚ ĐOÀN


Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

TÌNH BIỂN ĐẢO- THƠ KHA TIỆM LY









TÌNH BIỂN ĐẢ
O


Từ lúc theo cha Rồng về biển
Nhớ trên ngàn một nửa anh em
Mãi mỏi mắt về Hoàng Liên, Phú Thọ
Cùng mẹ Tiên nên máu chảy ruột mềm

Đất mẹ dài ba ngàn cây số
Điệp trùng rừng núi , ngút ngàn sông
Lòng biển lớn ấp ôm từng đảo nhỏ
Như phù sa thương lúa ngậm đòng đòng

Bao phen chống chọi cùng bão dữ
Biển gào lên, đảo uất căm hờn
Trãi gan mật làm nên trang dựng sử
Đổ mồ hôi cho biển mặn mòi hơn

Từ bóng đen trùm lên mặt biển
Chém trên lưng đảo vết dao hằn
Dân tram triệu noi chí hùng Hưng Đạo
Đất trăm sông cùng dậy sóng Bạch Đằng


Dù đất nước trãi qua bao hưng phế
Nhưng muôn đời biển đảo chẳng rời nhau
Như Đống Đa còn rền vang trống trận
Thì sông Hồng máu giặc nhuộm đỏ au

Đảo đã chôn chân người giữ nước
Biển ngàn đời ôm lấy giang sơn
Máu chiến sĩ cùng làm nên Tổ Quốc
Gươm thù khua càng cao sóng căm hờn

Dù giong tố có bào mòn vách đá
Sóng bạc đầu vùi cát đảo cao thêm
Vì chung bọc Âu Cơ trăm trứng
Nên ngàn năm biển đảo vẫn anh em

Người ở biển nghe lòng sâu thổn thức
Người đất liền thương hạt cát Trường Sa
Mòn đá đảo, chẳng sờn gươm chánh khí
Dù gian nan vẫn giữ một lời thề


Trăm con vốn một dòng cha Lạc
Ba cõi chung tô đỏ sắc cờ
Đảo thương tích xót đau lòng biển lớn
Bởi sinh cùng một mẹ Âu Cơ

          KHA TIỆM LY


Nguồn: từ email của TG KTL gửi lamngọc
NM cảm ơn Kha huynh thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.





Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

BẤT CHỢT ĐÔNG VỀ - THƠ LÊ ĐĂNG MÀNH









BẤT CHỢT ĐÔNG VỀ!

Lã chã lệ hoen cành thu hấp hối
Nhạt nhòa sương khói gối sóng đìu hiu
 Dơi vào an cư chẳng lời trăn trối
Đông chợt lại về diễn vỡ buồn thiu

Muôn thuở thu xa giao mùa ảm đạm
Phiêu nhiên hoa cỏ trần giữa tàn phai
Lũ bão váo vênh nhuộm bùn thê thảm
Đồng ruộng trầm luân giun dế u hoài

Mơ cầm bếp lửa nuốt mùi rơm rạ
Hơi đông rét buốt lay vạt tang bồng
Hương thơm dân dã cứa hồn khách lạ
Ngát vị chiều hôm nhớ bữa… đêm đông!

Mùa của chia ly chơi vực sanh diệt
Đông cứ hắt hiu dọn tiệc não nề
Dâu bể quen rồi chẳng hề nuối tiếc
Choàng vai cô quạnh xin rước đông về

Hạnh phúc chưa trồi mặc mầm đau khổ
Ấm cúng có đâu mà ngại lạnh lùng
Vũ trụ vô cùng …đến,đi…về,ở..!
Cầm mùa oan trái sánh bước ung dung.


               LÊ ĐĂNG MÀNH


Nguồn: từ email của TG Lê Đăng Mành gửi lamngoc
NM cảm ơn Lê huynh đã chia xẻ một bài thơ hay

                

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

CÁI LẠNH ĐẦU MÙA - THƠ NGUYỄN KHÔI











        CÁI LẠNH ĐẦU MÙA
           ( Tặng : N. M. )
                 -------
" Đổi gió mùa thu trời lạnh chăng em ?
Màu xanh khuất mà mây cũng  vắng
Hiu hắt lòng ta như thiếu nắng
Như căn nhà những tháng không em".
               - thơ Chế Lan Viên
                     *
Gió lạnh đầu mùa rách tàu lá Chuối
Đồng đã gặt rồi, chim Ngói bay qua
Bếp lửa hậu phương thơm mùi cơm mới
Để vợ thương chồng ở mãi Trường Sa.
                     *
Gió lạnh đầu mùa vương hương hoa Sữa
Để ai đi xa nhớ về Hà Nội
Ở Tokyo đang mùa lá đỏ
Nhấp chén trà Sen lòng dạ thảnh thơi.
                      *
Gió lạnh đầu mùa tuyết rơi xứ tuyết
Ai ngồi nấu rượu cho má rực hồng ?
Ơi đêm cao nguyên đá phả cái rét
Cho cái thịt da ôm ấp ấm nồng.

              Hà Nội 4-11-2014
                 NGUYỄN KHÔI


Nguồn: Từ email của TG Nguyễn Khôi gửi lamngoc
NM cảm ơn nhà thơ NK đã tặng thơ và thường xuyên chia xẻ những bài thơ hay.


Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ KIÊN GIANG - MÂY TRẮNG ĐÃ BAY- THƠ NGUYỄN AN BÌNH





                     Ảnh soạn giả , nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà 




MÂY TRẮNG ĐÃ BAY
*Tưởng nhớ nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà


Người đã đi rồi sao đã rơi
Trăng khuya thôi đã khuất sau đồi
" Bông bần vừa rụng theo dòng nước"
"Hòa lẫn phù sa tăm tắp trôi" (1)

"Hoa trắng thôi cài trên áo tím" (2)
Tình yêu muôn thuở mãi không nguôi
Người em xóm đạo thời binh lửa
Ai nhớ thương ai mắt ngậm ngùi

"Khói trắng''(3) còn vương muì rạ mới
Ruộng đồng thơm'' Lúa sạ miền nam'' (4)
"Quê hương thơ ấu'' (5) chìm sương khói
Qua mấy '' Cầu tre'' " Đẹp Hậu Giang''(6)

Từ ấy xa rồi ''Tà áo tím''(7)
"Cô hàng bông cỏ'' (8 )thật dễ thương
"Cánh đồng thơ" (9) nở nhiều hoa đẹp
Để lại cho đời khúc yêu đương

"Mây Tần" (10) vẫn thoảng theo hương gió
"Lều thơ''  (11 ) còn ngát chút tình quê
Thương anh xin nén đôi dòng lệ
Cát bụi từ nay đón anh về

      NGUYỄN AN BÌNH
    Bên dòng sông Hậu 31/10/2014

Nguồn : Blog Tiengviet.net của Nguyễn An Bình
*Chú thích:
(1) Mượn ý câu thơ ''Bông bần thôi rụng xuống phù sa'' trong bài thơ '' Đẹp Hậu Giang'' của KG
(2,3,4,5,6,7,8 ):tên những bài thơ của KG
(9) :Trang thơ do KG phụ trách trên nhật báo Công Luận
(10): Chương trình thơ văn do KG phụ trách trên đài phát thanh SaiGon
(11): Trang thơ do KG phụ trách trên báo Điện Tín

TIỂU SỬ NHÀ THƠ KIÊN GIANG

Nhà thơ Kiên GIang kiêm Soạn giả Hà Huy Hà , tác giả bài thơ nổi tiếng Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím , sau một cơn đột quỵ đã trút hơi thở cuối cùng tại bv Nguyễn Tri Phương TPHCM lúc 6g30 sáng ngày 31/10/2014, hưởng thọ 87 tuổi
Nhà thơ, soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh theo gia đình cho biết nhiều tài liệu ghi là ông sinh năm 1929 nhưng chính xác ngày sinh của ông là 17-2-1927 tại làng Đông Thái , huyện An Biên, Rạch Giá , tỉnh Kiên Giang
Thơ của Kiên Giang được nhiều người yêu mến và thuộc nằm lòng cho đến ngày nay Ông nổi tiếng với bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím , bài thơ sau đó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và rất được công chúng yêu thích Các tác phẩm thơ của ông đã in gồm có : Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962), Lúa sạ miền nam (1970) Quê hương thơ ấu
Ngoài làm thơ,làm báo, Kiên Giang còn viết nhiều tuồng cải lương rất nổi tiếng với bút danh Hà Huy Hà như Người đẹp bán tơ, Người vợ không bao giờ cưới , Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa,Phấn lá men rừng, Dòng nước ngược, Trương Chi Mỵ Nương...
Ông được xem là soạn giả nổi tiếng cùng thời với NSND Năm Châu , NSND Viễn Châu, Quy Sắc ... và là thầy của cặp đôi soạn giả Hà Triều Hoa Phượng
Sau năm 1975 , nhà thơ Kiên Giang làm  phó đoàn cải lương Thanh Nga , làm việc tại phòng tại phòng nghệ thuật sân khấu  Ông cũng là ủy viên ban chấp hành Hội Sân khấu TP HCM qua ba nhiệm kỳ
(NM viết lại theo báo Tuổi trẻ online)




VĨNH BIỆT MỘT TÀI NĂNG , MỘT SOẠN GIẢ KỲ CỰU CỦA SÂN KHẤU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG NAM BỘ
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG TANG QUYẾN