CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

HOA SEN - LỜI THÍCH NỮ DIỆU TỪ , NHẠC NGUYỄN HỮU TÂN







HOA SEN
LỜI THÍCH NỮ DIỆU TỪ
NHẠC & TRÌNH BÀY NGUYỄN HỮU TÂN
VIDEOCLIP HUỲNH TÂM HOÀI

KHI ĐÀN SẺ NHỎ KHÔNG VỀ - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 



KHI ĐÀN SẺ NHỎ KHÔNG VỀ



Chiều nay, đàn sẻ nhỏ sẽ không trở lại

như một thói quen mặc định mỗi ngày

Không còn nghe tiếng lít rít vui tai trên cành xoài, cành ổi

không còn sà xuống sân gạch tàu

Ngôi nhà của ông già hưu trí bỗng rộn ràng

Trong niềm vui từng chiều rải thóc

Ông lặng im trầm tư nhìn lũ chim

tranh nhau mổ thóc trong hòa bình.

*

Chỉ còn chút nắng tàn lốm đốm trứng gà cuối bửa

bụi cúc dại ngây ngô lắc lư ngoài song cửa

Người đã đi nhẹ nhàng như một chiếc lá khô

kẻ ở lại với cái đau tức ngực

Cái đau của thời cô vít đầy bí hiểm

cướp đi sinh mạng con người

Không còn ai giả tiếng chim gọi chúng trở về

để rải những hạt thóc vàng lên sân gạch

Giấc mơ trong xanh chưa từng có nỗi sợ hãi không màu

ông già đã hóa thành làn khói mỏng

Những sợi khói bay vòng

thành vòng hoa tang trắng tan vào đám mây bềnh bồng.

*

Chiều nay đàn sẻ nhỏ đã không quay về

Chỉ còn lại chiếc lá vàng tiếc nuối

Vừa ngậm ngùi rơi ngoài hiên vắng

Sân gạch đỏ loang màu nắng cũ vắng bóng người.


27/8/2021

NGUYỄN AN BÌNH

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

TẠP GHI & PHIẾM LUẬN : CHỮ PHẬN TRONG TRUYỆN KIỀU - ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 




TẠP GHI và PHIẾM LUẬN :  

                                   Chữ PHẬN trong Truyện Kiều .

                                       


                                       PHẬN HỒNG NHAN có mong manh,
                                 Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.
              
       Trong chữ Nho, chữ PHÂN 分 thuộc dạng chữ Hội Ý, vì được ghép bởi bộ BÁT 八 là số 8 ở trên và bên dưới là bộ ĐAO 刀 là Cây Dao; với Hội Ý là : Cái gì đó được xắt 8 dao là đã CHIA nhỏ ra rồi. Nên nghĩa đầu tiên của PHÂN là CHIA. Trong tiếng Nôm ta có từ kép PHÂN CHIA. Khi đã chia thì nó sẽ Thành từng Phần một, cụ thể là 8 phần như chữ Hội Ý ở trên, nên ta lại có từ kép THÀNH PHẦN 成分. Bây giờ thì Động từ PHÂN được đọc thành Danh từ PHẦN (dấu huyền) để chỉ một đơn vị đã được chia ra. Đó là trong đời sống vật chất thực tại thực tế trước mắt; còn về đời sống tinh thần, tâm linh, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian thì Thượng Đế, tức ông Trời cũng chia đời sống con người ra nhiều Thành Phần kể cả tâm linh và vật chất như cụ Nguyễn Du đã lý luận trong Truyện Kiều :

                       Ngẫm hay muôn sự tại trời,
                     Trời kia đã bắt làm người có thân.
                       Bắt phong trần phải phong trần,
                    Cho thanh cao mới được PHẦN thanh cao.  

      Cái "PHẦN thanh cao" đó là cái số PHẬN của con người, trong chữ Nho gọi là DUYÊN PHẬN 緣分. Chữ PHÂN bây giờ lại được đọc là PHẬN (dấu nặng) chỉ sự đặt để xếp đặt sẵn của "ông Trơi" để dành riêng cho ai đó. Bây giờ thì ta hãy lần lượt tìm hiểu xem cái THÂN PHẬN 身分 và cái PHƯỚC PHẦN 福分 của những vai nữ trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã được cụ diễn dịch như thế nào trong xã hội phong kiến ngày xưa...

      Với thuyết "TÀI MỆNH TƯƠNG ĐỐ 才命相妒", tức "Tài năng và bản mệnh ganh ghét lẫn nhau". Có nghĩa : Hễ có tài năng xuất chúng thì mệnh số sẽ long đong trắc trở và ngược lại ! Thuyết nầy đi song song với thuyết "HỒNG NHAN ĐA TRUÂN 紅顏多迍" để chỉ những bậc "Hồng phấn giai nhân cuộc đời luôn truân chiên trắc trở", chẳng những thế lắm khi còn phải trầm luân chìm đắm trong những chốn trăng hoa thanh lâu tử các cho càng thắm thía hơn với kiếp má hồng phận bạc, như con ma Đạm Tiên đã được Vương Quan kể lể chẳng hạn :
                 
                        PHẬN HỒNG NHAN có mong manh,
                  Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

                           Inline image
                                 Đạm Tiên           Thúy Kiều                 Thúy Vân

      Từ hình ảnh của nàng Đạm Tiên và qua cơn báo mộng, Thúy Kiều cũng cảm thương cho thân phận của mình "Thấy người nằm đó biết sao thế nào ?!" mà lo lắng không yên :

                      Cứ trong mộng triệu mà suy,
                    PHẬN con thôi có ra gì mai sau!

  ... và thực tế thì tai nạn đã ập tới, khiến Thúy Kiều phải bán mình chuộc tội cho cha, nàng đã an ủi Vương Ông xem như mình đã chết từ những ngày còn thơ đi :

                       PHẬN sao đành vậy cũng vầy,
                   Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

      Đối với mối tình duyên vừa gặp gỡ với Kim Trọng thì Thúy Kiều cũng đành thúc thủ trước cảnh nhà nguy biến :

                        PHẬN dầu, dầu vậy cũng dầu,
                     Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
                        Công trình kể biết mấy mươi.
                     Vì ta khăng khít, cho người dở dang.

       Nàng đành nhờ em là Thúy Vân thay mình để trả "cái nghĩa tình" cho Kim Trọng và đau khổ oán trách cho số phần bạc bẽo của mình :

                         PHẬN sao PHẬN BẠC như vôi,
                      Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
                         Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang !
                      Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !

                    Inline image

       Đến khi biết mình đã lọt vào lầu xanh rồi, sau khi lạy thần mày trắng, Tú Bà đã :"Dạy rằng con lạy mẹ đây, Lạy rồi sang lại CẬU mày bên kia !". Thúy Kiều đã ngạc nhiên mà phản kháng :

                        Nàng rằng: Phải bước lưu ly,
                     PHẬN HÈN vâng đã cam bề tiểu tinh.

     "Phải bước lưu ly" nên phải "cam bề tiểu tinh" là làm vợ lẻ của Mã Giám Sinh. Sao lại bắt phải gọi bằng CẬU là cha, trong khi Mã đã ăn nằm với Thúy Kiều rồi. Quả là PHẬN HÈN mặc người muốn đặt để thế nào cũng được ! Đến khi bị Sở Khanh gạt và bị Tú Bà đuổi theo bắt về, thì cái PHẬN HÈN của Thúy Kiều lại được đem ra trả giá để đổi lại sự an toàn cho thân xác :

                            Nhưng tôi có sá chi tôi,
                   PHẬN tôi đành vậy, vốn người để đâu ?

      Qủa là :
                        Thương thay THÂN PHẬN lạc loài,
                     Dẫu sao cũng ở tay người biết sao ?

      Khi bị Thúc Ông thưa đến cửa quan, thì một lần nữa thân phận thấp hèn của một kỹ nữ lại bị dày dò hành hạ :

                        PHẬN HÈN nào dám kêu oan,
                    Đào hoen hoẹn má, liễu tan tác mày !...

      Cũng may là nhờ còn có tài văn thơ, nên Thúc Sinh mới có cớ để khoe với quan phủ về tài hoa của Thúy Kiều :

                       Sinh rằng: Chút PHẬN BỌT BÈO,
                   Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.

    ...và sau khi đọc thơ của Thúy Kiều, quan cũng phải khen rằng :"Thật là tài tử giai nhân, Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn?" nên đã kết hợp Thúy Kiều cho Thúc Sinh trước mặt Thúc Ông. Nhưng Thúy Kiều vẫn biết thân phận nhi nữ của mình như là cây liễu cây bồ, nên khi đã "Một nhà sum họp trúc mai" với Thúc Sinh rồi, vẫn không quên thân phận lẻ mọn của mình mà khuyên Thúc về thăm vợ cả là Hoạn Thư :

                        PHẬN BỒ vừa vẹn chữ tòng,
                    Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.
                        Tin nhà ngày một vắng tin,
                    Mặn tình cát lũy nhạt tình tào khang !...

                       Inline image

      Nhưng chàng Thúc lại quá hời hợt, không nghe lời Thúy Kiều mà cứ một mực dấu quanh với Hoạn Thư cho đến nỗi Hoạn Thư phải ra lệnh cho Khuyển Ưng bắt Thúy Kiều về làm con ở cho Hoạn Bà :

                            PHẬN sao bạc chẳng vừa thôi,
                   Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.

     Rồi lại được chuyển về để hầu hạ Hoạn Thư, trong một chuyến Hoạn Thư về nhà thăm mẹ :"Tiểu thư dưới trướng thiếu người, Cho về bên ấy theo đòi lầu trang". Nên luôn phải biết thân biết phận của mình :

                        Sớm khuya khăn mặt lược đầu,
                     PHẬN con hầu giữ con hầu dám sai.

     Nhưng làm sao yên thân được với Hoạn Thư khi chàng Thúc :"Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê". Rồi thì :"Vợ chồng chén tạc chén thù, Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi". Và :"Bắt khoan bắt nhặt đến lời, Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay". Bắt đàn bắt hát hành hạ đủ điều... Cuối cùng thì đưa vào Quan Âm Các để Thúy Kiều xuất gia đi tu. Cho nên nàng quyết định trốn đi vì : 

                        PHẬN BÈO bao quản nước sa,
                    Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
 
     Lấy cắp chuông vàng khánh bạc, trốn khỏi Quan Âm Các, đến Chiêu Ẩn Am để tu với sư Giác Duyên, nhưng vẫn không yên thân, vì khi "Có người đàn việt lên chơi cửa Già", mới "Giở đồ chuông khánh xem qua, Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!". Và khi Giác Duyên tra hỏi thì Thúy Kiều đành nói thật về thân thế của mình và "liều mạng" :
 
                          Bây giờ sự đã dường này,
                    PHẬN HÈN dù rủi, dù may, tại người.

      Đến khi về với Từ Hải thì như cá gặp nước, như rồng lên mây, mặc sức mà tung hoành, báo ân báo oán, và cô tiểu thư Hoạn Thư hách dịch ngày nào bây giờ phải :"...hồn lạc phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca" :
      
                               Rằng: Tôi chút PHẬN ĐÀN BÀ,
                       Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,

                    
      Thúy Kiều cũng đã rất phóng khoáng rộng rãi mà tha cho Hoạn Thư không trị tội :"Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen" với tấm lòng bao dung :"Đã lòng tri quá thì nên, Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay". Tha cho người rồi đến lượt người khác cũng tha cho mình. Khi Từ Hải đã thất thế sa cơ "... thu linh trận tiền" thì lúc gặp Thúy Kiều, Hồ Tôn Hiến cũng đã nói :

                      Rằng: Nàng chút PHẬN HỒNG NHAN,
                  Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương !

      "PHẬN HỒNG NHAN" luôn là nhóm từ dùng để chỉ thân phận trắc trở hẫm hiu của những người đàn bà đẹp, trước đó cụ Nguyễn Du đã dùng để tả Đạm Tiên :"PHẬN HỒNG NHAN có mong manh, nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương !" Bây giờ thì dùng "CHÚT PHẬN HỒNG NHAN" để chỉ thân phận gian truân chìm nổi của Thúy Kiều. Bản thân Thúy Kiều thì lịch sự khiêm nhường với từ tự xưng là "chút phận lạc loài" khi Hồ Tôn Hiến ép gã nàng cho thổ quan :

                        Thưa rằng: Chút PHẬN LẠC LOÀI,
                    Trong mình nghĩ đã có người thác oan.
                         Còn chi nữa cánh hoa tàn,
                     Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lân.

      Má hồng thì Phận bạc, BẠC 薄 là mỏng manh, là hời hợt , là không vững chắc. Nhưng ông bà ta cũng nói "Đức năng thắng số", số phận có mỏng manh nhưng biết tích đức, ăn ở cho phải đạo làm người thì cái phúc phần cũng sẽ đến mà thôi, như lời của Đạm Tiên khi báo mộng đã nói với Thúy Kiều :

                       Chị sao PHẬN MỎNG phúc dày,
                     Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai!

      Cái PHẬN MỎNG nầy của Thúy Kiều còn được Vương Viên Ngoại nhắc lại khi chàng Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều :

                       Kiều nhi PHẬN MỎNG như tờ,
                      Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!

       Rồi vì quá đau xót cho cảnh ngộ của con gái, Vương Viên Ngoại lại buông lời oán trách thở than :

                              PHẬN sao BẠC bấy Kiều nhi!
                            Chàng Kim về đó con thì đi đâu?

                     Inline image

      Nhưng rồi cũng đành cam với số phận đã được an bày :

                           Bây giờ ván đã đóng thuyền,
                   Đã đành PHẬN BẠC khôn đền tình chung!

       Hết Phận Hèn, Phận Mỏng, Phận Bạc... rồi cuối cùng văn hoa và nhẹ nhàng hơn với CHÚT PHẬN HOA RƠI, như khi tìm gặp lại được Thúy Kiều đang tu cùng sư Giác Duyên ở thảo đường ven sông :

                       Nàng rằng: Chút PHẬN HOA RƠI,
                     Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.

      PHẬN còn chỉ cái PHƯỚC PHẦN trong duyên nợ, như khi nhờ Thúy Vân thay mình lấy Kim Trọng để trả nghĩa cho chàng, thì mặc dù trong bụng rất ưng ý vì cuộc sống rất hạnh phúc với Kim Trọng :"Người yểu điệu kẻ văn chương, Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì", nhưng ngoài mặt thì Thúy Vân vẫn ỡm ờ như là miễn cưỡng làm ơn :

                       Gặp cơn bình địa ba đào,
                  Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
                       Cũng là PHẬN CẢI DUYÊN KIM,
                  Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao !

      Tội nghiệp Thúy Kiều, luôn luôn biết thân biết phận của mình mà không dám "...đem trần cấu dự vào bố kinh" có nghĩa là không dám đem tấm thân "mười lăm năm lưu lạc trong lầu xanh" của mình để làm vợ làm chồng với Kim Trọng như những người bình thường.
 
                         Nàng rằng: PHẬN THIẾP đã đành,
                         Có còn chi nữa cái mình bỏ đi !                        
                         Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,
                   Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may.

      Mặc dù đạo cô Tam Hợp đã nói là :"Khi nên trời cũng chiều người, Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau", nhưng Thúy Kiều vẫn đề nghị với Kim Trọng là :"Chàng dù nghĩ đến tình xa, Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ" và vui với cuộc sống :"Khi chén rượu khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên"...

      Thế mới biết :
                           Ngẫm hay muôn sự tại trời,
                      Trời kia đã bắt làm người có thân.
                        Bắt phong trần phải phong trần,
                  Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
                        Có đâu thiên vị người nào, 
                    Chữ TÀI chữ MỆNH dồi dào cả hai ?!

      Cuối cùng cụ Nguyễn Du đã kết luận là :

                             Có TÀI mà cậy chi TÀI,
                      Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần.

              

     Nên trót...
                      Đã mang lấy nghiệp vào thân,
                  Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
     ... vì : 
                       THIỆN CĂN ở tại lòng ta,
        nên :
                  Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI !

        Xin được kết thúc bài phiếm luận về chữ PHẬN trong Truyện Kiều ở nơi đây. 

        Hẹn bài viết tới !



                                     杜紹德
                               ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                        

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

CHONG ĐÈN ĐỌC VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH - THƠ NGUYÊN LẠC

 





CHONG ĐÈN
ĐỌC VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH
.
Đêm quánh đặc tiếng thời gian tích tắc
Chong đèn khuya đọc lại truyện tử sinh
"Còn chi ai quí ai hèn?
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?" *
.
Chong đèn đọc truyện Nguyễn Du
Câu thơ trêu khổ thiên thu lệ người!
Lệ xưa tháng bảy sụt sùi
Người nay mùa đến có vui được nào?
.
Hỡi nhân gian! Biết làm sao?
Để quên được thuở ba đào nhiễu nhương
Để quên oan nghiệt đoạn trường
Sinh ly tử biệt... tai ương cõi đời!
.
Tiền nhân thảm thiết khóc người
Ta nay đêm muộn mượn lời thơ xưa
Chiêu hồn tháng bảy mưa đưa
Gởi theo tiếng gió lạnh thừa đêm nay!
.
Khêu đèn cho nỗi sầu dài
Đọc trang thơ cổ khóc ai mùa về!
"Chúng sinh thập loại" buồn thê!
Đêm trôi tích tắc tái tê tiếng lòng!
.
Lưng tròng số kiếp trầm luân
Khép trang thơ cổ... Nến hồng lụn tim!
Khóc đời cũng khóc nỗi riêng
Sắc Không gõ tụng lời kinh vô thường!
.............
[*] Lời thơ "Văn tế thập loại chúng sinh" - Nguyễn Du
.
NGUYÊN LẠC


Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

MÙA THU, NGỒI BÊN CHÂN CẦU CŨ. - THƠ NGUYỄN AN BÌNH

 





MÙA THU, NGỒI BÊN CHÂN CẦU CŨ

 

Về đây ngồi lại chân cầu cũ

Chỉ thấy một trời hoa nắng rơi

Mấy chiếc lá vàng còn sót lại

Có hiểu giùm ta giây phút thôi.

 

Con sông ngày ấy giờ trơ đáy

Cúc của đường mơ đã tàn chưa?

Sao thấy mùa thu trôi mải miết

Bên bờ lau trắng của ngày xưa.

 

Nước đã cạn nguồn từ lâu lắm

Em có chờ đuổi bóng hoàng hôn

Mắt dỏi cánh chim bay viễn xứ

Đâu khói quê nhà ánh chiều buông.

 

Ngan ngát tỏa hương mùa dâu chín

Qua thời xuân sắc đã vàng phơi

Ngực có còn thơm - trăng thiếu phụ

Suối tóc huyền xưa đã chìm trôi.

 

Về đây ngồi lại chân cầu cũ

Em có cùng ta ngắm sao rơi

Lắng nghe tiếng sóng từ sâu thẳm

Reo từ sỏi đá chút niềm vui.



24/9/2019

NGUYỄN AN BÌNH



ĐỌC THƠ VIẾNG ĐỒNG BÀO CHẾT DỊCH COVID 19 CỦA NGUYỄN KHÔI - CHÂU THẠCH

 





ĐỌC’THƠ VIẾNG ĐỒNG BÀO CHẾT  

DỊCH COVID 19” CỦA NGUYỄN KHÔI 

                               

 

Lời bình: Châu Thạch 

 

     Dịch Covid 19 đem nỗi đau đến cho toàn thế giới. Việt Nam cũng không tránh khỏi. Thành phố Hồ Chí Minh bị “toang”. Toang là một động từ chỉ thành trì chống dịch bị vỡ, con vi rút Corona tung hoành sát hại đồng bào ta. 

 

     Nỗi đau kêu không thấu Trời làm quặn lòng người nghệ sĩ. Từ  đó  thi ca về dịch Covid ra đời. Trong những bài thơ viết về nỗi đau do đại dịch đem đến, trường thi “Thơ Viếng Đồng Bào Chết Dịch Covid 19’ của nhà thơ Nguyễn Khôi viết theo thể Song Thất Lục bát, như tiếng rên thống thiết của mọi con người,, mọi thành phần xã hôi, vang vọng nỗi bi thương mà ai đọc cũng thấy xé lòng! 

 

     Bài thơ liền mạch. Tôi xin phép cắt ra nhiều khổ để dễ dàng đồng cảm với nỗi niềm chất chứa trong thơ. Vào đề, tác giả giới thiệu thời điểm và địa danh mà con vi-rút tung hoành : 

 

Tiết tháng bảy trời bừng nắng nóng 

Lửa cháy rừng rực bỏng miền Trung 

Được thời Covid vẫy vùng 

Thành Hồ thất thủ... hãi hùng xiết bao. 

 

     Thành Hồ là thành Phố Hồ Chí Minh, ai cũng biết là một thành phố phồn hoa, năng động và đông dân nhất Việt Nam. Tính từ 18 giờ 30 ngày 19/7/2021  đến 6 giờ ngày 20/7, Thành phố ghi nhận thêm 1.519 trường hợp nhiễm mới đã được Bộ Y tế công bố. Trong đợt dịch thứ 4 bắt đầu từ ngày 27/4 đến 20/7, Thành phố đã có hơn 36.000 trường hợp mắc Covid-19. Như vậy có thể nói tác giả đã cho tháng 7 là thời điểm thành phố Hồ CHí Minh thất thủ trước quân xâm lăng Covid 19  rất chí lý. Sau đó số ca dương tính mỗi ngày mỗi tăng. Đến ngày 20/8  thì thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận nhiểm trong ngày 3.375 người, nâng tổng số mắc bệnh lên 166.679 người. Số người chết chỉ biết là rất nhiều. Nhà thơ Nguyễn Khôi đã mô tả sự khủng khiếp ở những câu thơ sau: 

                 

Ngày trăm người theo nhau chết Dịch  

Bình Hưng Hòa không kịp đốt thiêu 

Vaccine đến chậm, ít liều 

Thuốc men đặc hiệu " phăng teo" còn chờ... 

 

     Theo trang thông tin về dịch bệnh của Bộ Y tế Việt Nam, tính đến ngày 6/8 TPHCM hiện có ít nhất 2.105 ca tử vong vì COVID-19 khiến lò thiêu phải hoạt động hết công suất. Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM Nguyễn Toàn Thắng hôm 5-8 cho hay, các bệnh nhân tử vong do COVID-19 tại thành phố được hỏa táng tại trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa (Lò thiêu Bình Hưng Hòa) và lò đang hoạt động 24/24 giờ. Nhà thơ Nguyễn Khôi cho biết lò hỏa táng nầy đốt thiêu không kip, nói lên  con số tử vong là nhiều không xiết kể. 

 

     Trong hoàn cảnh cấp bách như thế, Vaccine là vũ khí duy nhất có thể đẩy lùi bọn giặc vô hình hung bạo Covid, thì nó lại đến chậm, chỉ có  “ít liều” như nhà thơ đã viết. Thuốc men đặc hiệu “Phăng teo” thì không biết bao giờ mới sản xuất ra đây. “Phăng teo” là gì? Phăng teo là một lá bài đặc biệt có trong những bộ bài Tây. Lá bài nầy khi đánh ra thì cắt bỏ được bất kì con bài nào của đối phương. Vậy thuốc men đặc hiệu “phăng Teo” chính là thứ thuốc quý, chửa  trị dược dứt điểm bệnh  Covid 19. Thứ thuốc ấy còn đang nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ta chỉ mới nghe phong phanh nói đến. 

      

     Qua 4 câu thơ kế tiếp, tác giả viết về thảm cảnh cho người mắc bệnh. Y sĩ thiếu, thuốc men thiếu, dụng cụ y tế thiếu, người bệnh đi dần vào cơn hấp hối, buông liều theo số phận: 

 

Sốt, tắc mạch, nghẹn ho... ngạt thở 

Bình Oxy chẳng đủ vạn người 

Thôi thì là chết thì thôi 

Chết không tang lễ, không lời điếu thương ! 

 

     Câu thơ thứ tư là nỗi đau sinh ly tử biệt hiu hắt cho người chết, thảm thương cho người sống. Điều đó đầy dẫy tin tức trên mạng xá hội, ta dễ dàng chứng kiến qua các video đăng tải hằng ngày. Nỗi bi thương đó dẫu trong thời chiến tranh cũng hầu như không có. Trong thời chiến tranh, người tử sĩ có đồng đội mình chôn cất, tệ lắm chết trong tay kẻ địch thì cũng có người đưa mình vào huyệt mộ. Ngày nay người chết vì con Covid bị quấn chặc trong túi ni lông, mọi người phải đứng xa. Túi ni lông bó kín xác người, lặng lẽ đưa vào lò hỏa thiêu, thân thể trở về vơi gia đình chỉ còn một nắm tro tàn. 

 

     Những người phải chịu số phận đau thương như thế là ai? Nhà thơ lần lượt nêu ra cho ta biết họ là ai. Họ không phải chỉ một thành phần trong xã hôi. Họ nằm trong mọi thành phần, mọi giai cấp. Cái chết vì con Covid không phân biệt tôn ti, giai cấp giữa xã hội nầy. 

 

    Đầu tiên nhà thơ nhắc đến những con người nghèo khổ xa phương cầu thực: 

 

Đây những kẻ cùng đường nghèo khổ 

Hy vọng vào Đất Hứa kiếm cơm 

Chen nhau ổ Chuột ven đường 

Gặp phen Dịch cúm lặng buồn tử vong. 

 

     Bốn câu thơ vẽ nên một giai tầng dưới đáy xã hội ngày nay. Sự chết của họ càng nói lên sự bất công cùng tận của số phận họ, sống trong lam lũ và chết trong cô đơn.  

 

     Tiếp theo là cái chết của những người nghệ sĩ tài hoa. Họ ra đi để thương tiếc cho bao người ái mộ, nhưng họ cũng ra đi một mình, không khác chi người nghèo khổ: 

 

Đây những kẻ lừng Văn nghệ sĩ 

Đấng tài hoa tuyệt mỹ diễn trò 

Gặp phen mắc cúm ốm o 

"Ra đi" hơ hớ tuổi thơ một mình. 

 

     Nhà thơ không quên nhắc đến giai cấp thượng tầng xã hôi. Những ông chủ, những nhà kinh doanh của tiền như nước. Hóa ra  của cải cũng không cứu được họ, khi mà số phận họ nằm trong con Covid: 

 

Đây những kẻ đình huỳnh Ông Chủ 

Nào xe sang, biệt phủ dollar 

Thị trường khuynh loát tài ba 

Gặp phen mắc cúm... Tiền mà làm chi ? 

 

     Rồi những thi nhân. Tác giả chúc họ về Trời đọc thơ, nhưng chắc chi họ về Trời được khi tác giả nói họ  lúc ở  trân gian “Mãi tào lao phố chợ ham vui/ Say sưa bia rượu quên đời”, mà chẳng lo tìm trước cho mình một chổ ở Thiên Đàng: 

 

Đây những kẻ đua thi Thơ phú 

Mải tào lao phố chợ ham vui 

Say sưa Bia rượu quên đời 

Gặp phen mắc cúm... về Trời đọc Thơ. 

 

   Nhà thơ còn nhắc đến những công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, nơi tập trung đông người, dễ lây bệnh nhất:  

 

Đây những kẻ làm thuê hiện đại 

Buộc chân vào cỗ máy Nhật, Hàn... 

Trong khu Công nghiệp vây quanh 

Gặp phen mắc cúm cũng đành tàn hơi. 

 

     Thành phần công nhân nầy chịu chung số phận như những người nghèo ở khổ thơ đầu tiên. Họ cũng “Hy vọng vào đất Hứa kiếm cơm” và cũng “Chen chúc nhau ổ chuột” trong những con hẻm của thành phố Hồ Chí Minh. Khi thành phố toang vì cơn đại dịch, họ nhiểm bệnh chết đi là điều đau đớn, nhưng nếu chưa nhiễm bệnh, thì cũng sống lây lất trong hoàn cảnh bi thương, không cơm ăn không nhà ở vì thất nghiệp, mất đi đồng lương tối thiểu của mình. Từ đó phát sinh cụm từ “Dư biến động dân cư” để chỉ về sự di dời quay lại quê hương của họ với biết bao nhiêu câu chuyện bi đát làm nát cả lòng người. 

 

     Và cuối cùng là những Thiên Thần Áo Trắng, những cán bộ nhận nhiệm vụ, những người làm thiện nguyện. Họ là những chiến binh lao lên tuyến đầu,  đã hy sinh vì sự an nguy của cả một dân tộc. Họ xứng đáng được vinh danh liệt sĩ, được ghi ơn, được  thờ phượng bằng bia đá, bằng bia miệng, mãi mãi họ ở trong lòng của mọi người: 

 

Đây những kẻ ngời Blu trắng 

Dấn thân vào cứu sống bao người 

Dầm trong vùng Dịch mệt nhoài 

Nhiễm Virus cúm quá... thời tử vong. 

Đây những kẻ trong vòng "giãn cách" 

Lo an dân, cấp bách tiếp nguồn... 

Ngày đêm canh gác phố phường 

Dính con Covid... đáng thương thật là... 

 

     Trường thi được khép lại bằng “Nén nhan vọng tưởng ôi lệ tràn…” của thi nhân. Nén nhan ấy như đại diện cho triệu triệu nén nhang trong tâm tư người Việt Nam, hẹn đến một ngày đất nước bình an, sẽ làm lễ “Quốc tang” cho những linh hồn đã khuất 

 

Dịch đang Diễn dân ta khổ sở 

Sẽ "Quốc tang" tưởng nhớ các người 

Rằm này tháng bảy buồn thui 

Nén nhang vọng tưởng thương ôi lệ tràn... 

 

   Người viết bài nầy xin được bàn thêm đôi lời về nghệ thuật trong trường thi “Thơ Viếng Đồng Bào Chết Dịch Covid 19” của nhà thơ Nguyễn Khôi: 

 

    Đây là một trường thi không đài lắm nhưng cô đọng, nó có âm hưởng  “Văn Chiêu Hồn” của Nguyễn Du, “Thăm Mả Cũ Bên Đường” của Tản Đà, nhưng khác ở chổ văn tế và bài thơ trên dùng nhận thức bao quát trong đời sống, trong thời cuộc mà viết, còn đây thấy duy một sự kiện đang diễn ra mà viết. Ngoài ra “Thơ Viếng Đồng Bào Chết Covid 19” còn khác những bài kia ở chổ lời thơ tả chân, không đưa lời than van vào đó để kích động nước mắt tha nhân. Thế nhưng, chính sự bình dị của lời thơ, chính sự diễn đạt khách quan của ý thơ, lại thẩm thấu vào lòng ta những tiếng kêu đau thương ẩn chứa trong các câu thơ đó.  

 

    Thơ nói về sự chết thì phải cần cường điệu, kích động bi luy, ảm đạm trong từ ngữ, tạo hiệu ứng mạnh trong lòng người đọc, khiến cho khi đọc, thần kinh căng lên, máu chảy nhanh lên, và tim đập mạnh lên để nước mắt tuôn rơi. Nguyễn Khôi không làm những điều đó, và hình như ông cũng không có cái tài viết như thế.  

 

     Đọc thơ Nguyễn Khôi nhiều lần, trôi có cảm tưởng, nhà thơ có cái tài truyền thông trực tiếp cảm xúc có thực trong lòng mình đến tâm tư người đọc qua những câu thơ tả thực, những câu thơ tưởng  như khô nhưng ngược lại, gây cảm ứng mạnh trong tâm hồn ta sâu và đậm. Câu nói “Những gì xuất phát từ trái tim sẽ đến những trái tim” áp dụng cho thơ Nguyễn Khôi thật đúng. Thơ xuất phát từ trái tim có tầng sô riêng của nó, không cần hét to la lớn.chỉ cần nhỏ nhẹ thôi cũng làm xao động lòng người! 

 

     Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khôi vơi nỗi đau thật đã viết một trường thi như một trang sử ký khách quan, có giá trị lưu lại cho đời sau biết về kiếp nạn hôm nay. 

                                        

             CHÂU THẠCH

 

 

THƠ VIẾNG ĐỒNG BÀO CHẾT DỊCH COVID 19 

                                

 

Tiết tháng bảy trời bừng nắng nóng 

Lửa cháy rừng rực bỏng miền Trung 

Được thời Covid vẫy vùng 

Thành Hồ thất thủ... hãi hùng xiết bao. 

Ngày trăm người theo nhau chết Dịch (1) 

Bình Hưng Hòa không kịp đốt thiêu 

Vaccine đến chậm, ít liều 

Thuốc men đặc hiệu " phăng teo" còn chờ... 

Sốt, tắc mạch, nghẹn ho... ngạt thở 

Bình Oxy chẳng đủ vạn người 

Thôi thì là chết thì thôi 

Chết không tang lễ, không lời điếu thương ! 

Đây những kẻ cùng đường nghèo khổ 

Hy vọng vào Đất Hứa kiếm cơm 

Chen nhau ổ Chuột ven đường 

Gặp phen Dịch cúm lặng buồn tử vong. 

Đây những kẻ lừng Văn nghệ sĩ 

Đấng tài hoa tuyệt mỹ diễn trò 

Gặp phen mắc cúm ốm o 

"Ra đi" hơ hớ tuổi thơ một mình. 

Đây những kẻ đình huỳnh Ông Chủ 

Nào xe sang, biệt phủ dollar 

Thị trường khuynh loát tài ba 

Gặp phen mắc cúm... Tiền mà làm chi ? 

Đây những kẻ đua thi Thơ phú 

Mải tào lao phố chợ ham vui 

Say sưa Bia rượu quên đời 

Gặp phen mắc cúm... về Trời đọc Thơ. 

Đây những kẻ làm thuê hiện đại 

Buộc chân vào cỗ máy Nhật, Hàn... 

Trong khu Công nghiệp vây quanh 

Gặp phen mắc cúm cũng đành tàn hơi. 

Đây những kẻ ngời Blu trắng 

Dấn thân vào cứu sống bao người 

Dầm trong vùng Dịch mệt nhoài 

Nhiễm Virus cúm quá... thời tử vong. 

Đây những kẻ trong vòng "giãn cách" 

Lo an dân, cấp bách tiếp nguồn... 

Ngày đêm canh gác phố phường 

Dính con Covid... đáng thương thật là... 

Dịch đang Diễn dân ta khổ sở 

Sẽ "Quốc tang" tưởng nhớ các người 

Rằm này tháng bảy buồn thui 

Nén nhang vọng tưởng thương ôi lệ tràn... 


Hà Nội, rằm tháng 7 Tân Sửu ( 2021) 

NGUYỄN KHÔI kính viếng... 

 

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

TẤM LÒNG NẮNG XUÂN - NGUYÊN LẠC

 



Tranh HOÀNG HƯƠNG TRANG    


TẤM LÒNG NẮNG XUÂN


Mẹ già như chuối chín cây

Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi - Ca dao


Nhân ngày rằm tháng 7, lễ Vu Lan bồn, ngày nhớ ơn và tưởng niệm cha mẹ, tôi viết vài hàng về Mẹ.

.

LỄ HỘI VU LAN BỒN


Trước hết xin có vài lời về Vu Lan bồn:


Vu Lan bồn là tên của một lễ hội Phật giáo được tổ chức rộng rãi ở Đông Á. Lễ hội này được cử hành vào cuối kỳ an cư mùa mưa của cộng đồng Phật giáo, tức là vào ngày 15 tháng Bảy âm lịch. Những vong linh được tin sẽ quay trở về nhà vào ngày này; và để tỏ lòng thành kính đối với họ, người ta đặt bày phẩm vật dâng cúng lên bàn thờ, đốt hương và thỉnh mời chư Tăng tụng đọc kinh chú, v.v. Tên của lễ hội này được dựa vào kinh Vu Lan bồn (Giáo sư Seishi Karashima - Nguyên Hiệp dịch)


Sự tích:

Xuất phát từ sự tích về Đại đức Mục Kiền Liên (một trong 2 đại đệ tử của Phật Thích Ca) với lòng đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.


Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẹ ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận địa ngục để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành lửa đỏ.


Cũng theo kinh Vu Lan bồn, Mục Kiền Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư Tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Muốn cứu độ nạn ấy thì đến ngày rằm tháng bảy mời thầy lập hội Vu lan bồn vừa tụng kinh vừa bố thí mới có kết quả". 


Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Kiền Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: Chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu  Lan bồn pháp). Từ đó, ngày lễ Vu Lan ra đời.

Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát.

.


BÀI THƠ DU TỬ NGÂM CỦA MẠNH GIAO


"Tấm lòng nắng xuân" tên tựa bài viết tôi muốn nói là tấm lòng của người mẹ, dựa vào câu Đường thi " Báo đắc tam xuân huy" của Mạnh Giao.


Về sự vinh danh người mẹ trong thơ Đường, chắc ai cũng nhớ đến bài thơ "Du tử ngâm" của Mạnh Giao. Đó là bài thơ ca tụng mẹ với những lời lẽ chân tình, giản dị, dễ hiểu xuất phát từ tấm lòng chân thật làm cảm động lòng người. Tô Thức đã khen bài thơ này: “Thi tùng phế phủ xuất, xuất thiếp sầu phế phủ” (Bài thơ xuất phát từ ruột gan, tâm can mà ra, và đã làm gan ruột phải bồi hồi xao xuyến).

.

1. Thi Sĩ Mạnh Giao


Mạnh Giao: (751- 814) tự là Đông Dã, người đất Võ Khang; là viên quan và là nhà thơ Trung Quốc thời Đường Huyền Tông. Lúc nhỏ ở ẩn trong núi Tung Sơn, tánh tình thầm lặng, làm thơ hay thiên về lý trí, lại chắt lọc từng chữ một. Hàn Dũ rất mến tài ông mà kết thành bạn vong niên. 

Lúc trai trẻ, ông đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến 46 tuổi, mới đỗ được Tiến sĩ; và đến năm 50 tuổi, ông mới được bổ làm Huyện úy Lật Dương (tỉnh Giang Tô). Ông mất năm thứ 9 niên hiệu Nguyên Hoà đời Đường Hiến Tông, thọ 64 tuổi. 

Nhà nghèo nhưng đã được mẹ hy sinh, chăm lo nuôi nấng cho đến khi thành tài, dù muộn màng - mãi đến năm gần 50 tuổi. Khi được làm quan, ông đã nghĩ ngay đến mẹ già ở quê và vội vàng đón mẹ về chung sống với ông. 

Tác giả đã sáng tác bài thơ nổi tiếng "Du tử ngâm" khi đón mẹ lên Lật Dương (ở dưới nhan đề tác giả chú rằng: Nghinh mẫu Lật thướng tác 迎母溧上作- Sáng tác lúc đón mẹ đến Lật Dương)

Ngoài bài Du tử ngâm được nhiều người biết đến, Mạnh Giao còn nổi tiếng với bài Liệt Nữ Tháo. Cả hai bài đều làm theo thể ngũ ngôn cổ thể (cổ phong) -(Tổng hợp nhiều nguồn)

.

2. Bài thơ Du tử ngâm


 

Du tử ngâm

.

慈 母 手 中 线

Từ mẫu thủ trung tuyến

遊 子 身 上 衣

Du tử thân thượng y

临 行 密 密 缝

Lâm hành mật mật phùng

意 恐 遲 遲 歸

Ý khủng trì trì quy

誰 言 寸 草 心

Thuỳ ngôn thốn thảo tâm

報 得 三 春 暉

Báo đắc tam xuân huy

.

Dịch Nghĩa:


Sợi chỉ trên tay mẹ

Thành chiếc áo mặc trên người đứa con đi xa

Trước khi con đi, mẹ khâu thật kĩ

Ý sợ con đi lâu chưa về áo đã hư

Ai bảo rằng tấm lòng của tấc cỏ

Có thể báo đáp được ánh nắng của ba xuân?

.

Dịch thơ:


- Trần Trọng San


Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay

Khâu lên tấm áo trước ngày con đi

Đường kim khăng khít chinh y

Sợ con chậm trễ không về lại ngay

Ai rằng tấc cỏ lòng này

Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân?

.

- Nguyên Lạc phóng dịch


Sợi chỉ tay mẹ hiền

Kết áo lãng du con

Khi đi khâu thật kĩ

Sợ lâu về hư mòn

Ai bảo lòng tấc cỏ

Báo đáp nắng ba xuân? 

.

3. Vài ý về bài thơ


--  "Du tử ngâm" ngắn gọn, súc tích, mỗi chữ trong thơ đầy cảm xúc. Bài thơ chỉ nhắc lại công việc bình thường: Những sợi chỉ trên tay, người mẹ may, khâu tấm áo cho người con sắp lên đường đi xa. Người mẹ cúi đầu thầm lặng, lo nghĩ: Biết bao trắc trở, cạm bẫy của đường đời mà con tôi sẽ gặp; biết bao giờ con trở lại. Tấm áo sẽ khoác trên mình con trên khắp nẻo đường viễn du, dù ở đâu cũng đều mang tâm tình của người mẹ ôm ấp. Ôi cao cả thay tấm lòng mẹ. 

Người con báo đáp lại những  gì mà người mẹ đã cho? 


Thốn thảo 寸草: cỏ nhỏ. Xuân huy 春晖: ánh nắng mùa xuân

Đứa con là “cỏ nhỏ”, tấm lòng Mẹ hiền là “nắng ấm của ba tháng mùa xuân”. Chính những tia nắng ấm đó đã làm cỏ lớn lên và thắm tươi.

Bài thơ "Du tử ngâm" là một tuyệt tác diễn tả tấm lòng bao la của Mẹ.


-- Trong nguyên tác: 

- Mạnh Giao gieo âm vận "Y": "Y" là âm khít miệng, thả lỏng, âm mềm, một âm chuyển tải nhiều cảm xúc nội tâm.(Phát hiện và nhấn mạnh của nhà thơ Lý Đợi)

- Những điệp tự như "mật mật phùng" (mật = dầy, nhặt, gần, khít / phùng =may) đã đối lại với "trì trì quy" (trì = chậm, trễ, muộn, lâu / quy =về) tạo nên những giai điệu rất hài hoà, âm thanh mật thiết quyện vào nhau đã diễn tả được những gì khăng khít nhất, những khắc khoải lo lắng bồi hồi của người mẹ sợ con đi xa lâu trở về, trên bước đường viễn du không một bàn tay săn sóc, Mẹ chỉ mong sao cho manh áo được dầy, kín, để đủ sưởi ấm thân con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc. (nhận xét của Hải Đà Vương Ngọc Long)

- Hai câu: "Lâm hành mật mật phùng / Ý khủng trì trì quy" (Khi con sắp ra đi mẹ may nhặt mũi kim, trong ý sợ rằng con sẽ lâu về) nói lên một cách sinh động tâm ý sâu xa của bà mẹ với tấm lòng trìu mến thiết tha lo cho con trẻ.

Lời lẽ giản dị, dễ hiểu, vì phát xuất từ trái tim chân thật, đã diễn tả được nỗi lo đau đáu của người mẹ trước phút lâm hành của con, ý sợ con đi xa lâu về, nên cố ý may nhặt mũi kim, để tấm áo sẽ lâu sờn rách trên bước đường tha phương lưu lạc.

- Hai câu cuối: "Thuỳ ngôn thốn thảo tâm/Báo đắc tam xuân huy" là hai câu tuyệt nhất trong bài thơ như nhiều người đã nói.

. Ai rằng tấc cỏ lòng này

Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân ?(Trần Trọng San)


. Hỏi rằng tấc cỏ lòng quê  

Ba xuân nắng ấm đền bù được chăng? (Hải Đà Vương Ngọc Long)


Ta sẽ xét tầm ảnh hưởng của 2 câu này:

.

4. Tầm ảnh hưởng


-- Hai câu cuối trong bài Du Tử Ngâm đã đi sâu vào văn chương Trung Hoa, tạo nên một số thành ngữ khá quen thuộc như: 

“Thốn thảo tâm” = tấc lòng nhỏ ví như tấc cỏ, lòng con hiếu thảo với cha mẹ

“Thốn thảo tâm bi” = tấc lòng của con thương cha mẹ

“Thốn thảo xuân huy” = Tấc cỏ và ánh sáng mùa xuân. Ý nói: Tâm ý nhỏ nhoi mong manh của cọng cỏ nhỏ (ví tấm lòng của người con) , không thể báo đáp được ân huệ của ánh sáng mùa xuân (ví công ơn sâu nặng của cha mẹ)


-- Đặc biệt, Nguyễn Du cũng đã mượn hai câu thơ cuối của bài "Du tử ngâm" để diễn tả nỗi lòng tha thiết của người hiếu nữ Thuý Kiều, muốn báo hiếu, đền ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, dù phải chịu đựng bao nhục nhằn đau khổ:

Đau lòng tử biệt sinh ly,

Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân


.

VÀI BÀI THƠ NHẠC VỀ MẸ Ở VIỆT NAM


Về sự vinh danh người Mẹ ở Việt Nam, chắc ai cũng nhớ đến một bài văn và một bài nhạc cùng tên viết về mẹ rất cảm động “Bông Hồng Cài Áo”. 

.

1. Tùy bút Bông Hồng Cài Áo 


Hoàng hôn phủ trên mộ

Chuông chùa nhẹ rơi rơi

Tôi thấy tôi mất mẹ

Mất cả một bầu trời.


Mấy đoạn vừa trích dẫn là ở trong tập sách nhỏ Bông Hồng Cài Áo của Nhất Hạnh, một bài văn viết về mẹ có lẽ sâu sắc, cảm động và tạo được ảnh hưởng sâu rộng nhất ở nước ta từ trước tới nay: 

Khởi đầu, vào năm 1962, nó chỉ là một đoản văn (hay tùy bút), sau được in riêng thành cuốn sách khổ nhỏ nhắn, bìa màu xanh dương nhạt vẽ một chiếc bông hồng, họa sĩ Hiếu Đệ trình bày đẹp giản dị, do nhà xuất bản Lá Bối in lần đầu tại Sài Gòn dường như vào năm 1968, phần đầu bên trong có ghi hàng chữ: Để dâng mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ. Medford, Hoa Kỳ, tháng tám, 1962, Nhất Hạnh. Sách được tái bản đến hàng chục lần.

Trong bài viết, thầy Thích Nhất Hạnh đã kể về một tập tục đẹp mà ông gặp ở Nhật Bản: 

   Đại khái, vào ngày Mẹ (Mother’s Day), nếu ai còn mẹ sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và người đó sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu ai mất mẹ, sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng...“Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.”

Sau khi cuốn sách được xuất bản một thời gian, trong dịp lễ Vu Lan, các anh chị Phật tử một số chùa cài những bông hoa màu hồng lên áo của bạn mình, do tác dụng lời gợi ý của thầy Nhất Hạnh. Phong tục cài bông hồng lên áo du nhập vào Việt Nam có lẽ bắt đầu từ đó.

.

2. Bài nhạc Bông Hồng Cài Áo 


Bài tùy bút Bông Hồng Cài Áo này cũng là nguồn cảm hứng cho một ca khúc bất hủ cùng tên do nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ (1930/1932?-2009) sáng tác trong thập niên 60 của thế kỷ trước, đến nay vẫn còn lưu hành rộng rãi, và được mọi người coi là một trong những bài hát tiêu biểu nhất về chủ đề người mẹ, tương đương với bài nhạc rất phổ biến: Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân (1933–1992).


Đây là vài trích đoạn lời nhạc của bài hát Bông Hồng Cài Áo : 

[ Một bông Hồng cho em/Một bông Hồng cho anh/Và một bông Hồng cho những ai/Cho những ai đang còn Mẹ

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào/Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau/Là tiếng dế đêm thâu/Là nắng ấm nương dâu/Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh/Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em/Thì xin anh, thì xin em/Hãy cùng tôi vui sướng đi.] - Phạm Thế Mỹ 

.

3. Tình Mẹ qua bài thơ Du Tử Ngâm


Từ bài Du Tử Ngâm quý hiếm trong kho tàng thơ Đường, Việt Nam chúng ta lại có được bài thơ phóng tác với nội dung mở rộng hơn như sau đây của Vương Ngọc Long, nó đã được nhạc sĩ Mai Đức Vinh phổ nhạc:

.

Đây chiếc áo chắt chiu từng sợi chỉ,

Mũi đan dầy cho ấm ngực đêm đông.

Tóc bạc trắng tháng năm chờ mòn mỏi,

Con ra đi, con đi, mẹ nhớ mong.

Mẹ là đó, là trái tim nhân ái,

Đầy hy sinh nhẫn nhục chẳng ngại ngần.

Lòng con đây thấm dâng từng tấc cỏ,

Biết bao giờ đền đáp nắng ba xuân?

(Vương Ngọc Long)

.

LỜI KẾT


Xin được phép ghi ra đây vài trích đoạn của hai bài thơ tôi viết về mẹ xem như là lời kết bài viết. Mong ngực trái của các bạn cài hoa hồng màu đỏ. Màu đỏ cũng là màu may mắn.

.

1. Tôi về... Bước khẽ bên góc vắng

Bóng mẹ còm hom ảm đạm sầu

Mắt mẹ xa vời phương thăm thẳm

Mẹ thấy gì không? Lệ xót đau!

Mười năm mong đợi mười năm nhớ

Thương nhớ tháng năm bạc mái đầu

Mắt mẹ đã mù vì lệ đổ

Khóc con xa biệt tích rừng sâu

.

Tôi về bước khẽ ôm tròn mẹ

Mẹ mỏng nhẹ như chiếc lá trầu 

Ngơ ngác đảo quanh tay quýnh quáng 

Con của tôi về ... Về thật sao?

(Vẫn còn tình mẹ- Nguyên Lạc)

.

2. Quê hương tôi là Mẹ

Mẹ cũng là quê hương

Mẹ ơi khúc đoạn trường!

Mẹ đâu rồi?… Dâu bể!

.

Happy Mother’s Day!

Happy ngày của Mẹ!

Happy… sao ngấn lệ?

Bông hồng trắng ngực tôi

.

Sẽ không phải người hiền

Nếu quên tình cha mẹ

Chắc chắn là rất tệ

Nếu không nhớ quê hương

(Mừng Ngày Của Mẹ- Nguyên Lạc)

NGUYÊN LẠC

...................

Tham khảo: 

 Vương Ngọc Long, Huỳnh Chương Hưng, Đỗ Chiêu Đức, Laiquangnam, Wikipedia...

– Mời nghe nhạc 

Bông Hồng Cài Áo - Diễm Thùy (Phạm Thế Mỹ, Thích Nhất Hạnh)

https://youtu.be/siCuYbaKilg