CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2024

CHỜ XUÂN - THƠ PHẠM QUANG TRUNG

 

nguồn ảnh Lequyen Vu


...từng đôi giao khúc chờ xuân

vắng em một buổi này thôi
mà mhư thế kỷ mây trôi qua cầu

hôn chiều cho ngực nở sâu
hôn em mệt lã gối đầu sao khuê
em nằm chưa vội ra về
nhặt hoa lót giấc đê mê cho cùng

mùi hương cỏ dại núi rừng
mùi em say đắm ngại ngùng tiến dâng
chiều ra khép cửa hoàng hôn
em ra khép cổng thả dòng thiên nga

tình xuân khai nụ kiêu sa
tứ xuân khai bút đôi tà lụa mây
vắng em chim mỏi đường bay
ngàn sau bỏ lại còn say mộng dài


PHẠM QUANG TRUNG

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2024

CÔ ÚT LÌA QUÊ - NHẠC & LỜI PHAN NI TẤN






CÔ ÚT LÌA QUÊ
Nhạc và lời PHAN NI TẤN
Tiếng hát DOÃN HƯƠNG
Tiếng đàn D.Q.HƯNG


THÚ ĐỌC BÁO XUÂN CỦA NGƯỜI SAIGON - TỪ KẾ TƯỜNG

         

   



THÚ ĐỌC BÁO XUÂN CỦA NGƯỜI SÀI GÒN

Không biết từ bao giờ làng báo có truyền thống phát hành thêm tờ báo xuân vào dịp Tết Nguyên Đán hàng năm, gọi là Giai phẩm xuân.Tờ báo đặc biệt này tăng trang, dày gấp đôi số báo thường, bìa in ốp-sét 4 màu, ruột cũng in màu và vì là báo xuân nên bài vở chọn lọc, đề tài là mùa xuân, “vui nhà, vui cửa”, tránh đấu đá nặng nề, chém giết, tai nạn… nhất là không đăng chuyện tang gia bối rối. Báo xuân hầu hết là bài văn nghệ, thời sự vài trang hiếu hỉ mang tính tổng kết, nhìn lại giống như thêm gia vị ngày xuân. Và một mục không thể thiếu đó là “Sớ Táo quân”, mượn lời ông Táo báo cáo chuyện dưới trần gian trong một năm theo thể văn vần: thơ 4 chữ, phú, hoặc song thất lục bát.
Báo xuân trước năm 1975 không như báo xuân bây giờ in ấn, phát hành rất sớm, trước Tết một tháng mà phát hành cận Tết trong khoảng từ 20 - 25 hoặc 26 tháng chạp âm lịch.Thậm chí, có tờ báo xuân phát hành sáng 28 tháng chạp âm lịch, còn thơm mùi giấy mực trong khi đây đó đã rộn rã hoa trái, bánh mứt lẫn tiếng trống múa lân, tiếng pháo mừng xuân. Báo xuân là một mặt hàng không thể thiếu trong mọi nhà, mọi gia đình. Ít nhất mỗi nhà cũng mua một tờ báo xuân mà mình yêu thích để nam, phụ, lão, ấu trong gia đình cùng đọc lai rai trong ba ngày Tết hay khách đến chơi nhà, chúc Tết gia chủ trong lúc hàn huyên bên chung rượu, chén trà, thỉnh thoảng liếc qua vài trang. Đó là một thứ văn hóa đọc của ngày xuân đã duy trì rất lâu đời kèm theo cái thú đọc báo xuân của người Sài Gòn lịch lãm.
Trước năm 1975, ở Sài Gòn có khoảng 30 tờ báo, hầu hết đều là nhật báo, khổ lớn kế đến là tuần báo, bán nguyệt san, tạp chí… chỉ đếm trên đầu ngón tay và đều là báo văn nghệ, giải trí kịch trường, chỉ nhật báo mới chuyên về thời sự, chính trị nhưng luôn có mấy trang văn nghệ đi kèm và đôi khi đối với một vài tờ nhật báo phần văn nghệ lại là chủ yếu. Bởi lẽ, nhật báo lúc đó thường có 8 trang, phần thời sự chính trị chỉ chiếm 3 trang (1,2,3) trang 7 là trang bài tiếp theo, trang 8 là tin “xe cán chó”, còn lại là những trang đăng “bài nằm” như thơ, truyện, tin tức thời sự văn nghệ và từ 3 cái phơ-giơ-tông trở lên, trong đó ít nhất là có 3 cái phơi-giơ-tông truyện kiếm hiệp của Kim Dung chuyển dịch sang Việt Ngữ từ báo Hồng Kông, Đài Loan.
Tại sao báo xuân trước năm 1975 không in ấn, phát hành sớm trước Tết cả tháng như bây giờ? Rất đơn giản, báo xuân thời đó không mang tính cạnh tranh khốc liệt như bây giờ. Và nếu là độc giả thường xuyên của báo nào tất nhiên sẽ ưu tiên mua báo xuân của tờ báo đó, xong mới mua tờ báo xuân thứ hai bất kỳ sau khi vừa đọc xong một loạt báo xuân bày trên quầy, thường tờ báo xuân này thiên về tâm lý “ hài lòng bà xã” nên sẽ là một tờ báo nghiêng về đề tài phụ nữ, ví dụ như : Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai…
Báo xuân trước năm 1975 hầu như không đặt nặng vấn đề quảng cáo, thậm chí có tờ báo xuân không đăng trang quảng cáo nào nên nội dung toàn bài vở rất phong phú, toàn chuyện đông, tây, kim cổ trong mùa xuân. Người đọc sẽ không bỏ qua các bài xoay quanh chuyện con giáp của năm đó, ví dụ như năm nay là Năm Thân sẽ nói về con khỉ. Và ôi thôi, có đủ chuyện về con khỉ, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng như “Năm Thân nói về…Tôn Ngộ Không” đến chuyện “Con khỉ đột Cà Mau”. Phụ nữ vốn mê tín, thiên về tâm linh, thích bói toán, tử vi ngày xuân nên sẽ có những chuyên gia cỡ Huỳnh Liên, Khánh Sơn “bốc quẻ” bàn về những người tuổi Thân sau đó là tình tiền, tài, lộc, một thứ “tử vi đẩu số” cho mọi người.
Khi lên Trung học, tuổi thiếu niên tôi đã có cái thú “đọc báo cọp” hay “đọc báo chùa” báo xuân ở vài sập báo quen đầu phố. Trước hết, vì lúc đó tôi đã tập tành làm thơ, viết truyện gửi đăng báo xuân, nên đọc để dò xem báo họ có đăng bài mình không. Nếu có thì móc hầu bao mua tờ báo xuân có đăng bài để “tự sướng”, sướng lắm, sướng một cách khó tả khi lật trang báo xuân có đăng bài thơ hay đoản văn, cái truyện ngắn của mình. Không có sự sung sướng nào bằng khi mua tờ báo xuân (không cần báo biếu, nhuận bút) có đăng bài mình.
Không chỉ mua một tờ, mà có nhiều tiền sẽ mua năm bảy tờ về khoe, tặng bạn bè. Báo xuân mới phát hành ra sập báo có một sự cuốn hút kỳ lạ trong dịp Tết. Cái bìa luôn là ảnh của một nữ ca sĩ, diễn viên điện ảnh hay cải lương nổi tiếng. Trình bày bên trong đầy màu sắc, hình ảnh, tranh minh họa, biếm họa. Và tôi nhớ nhất là thứ :mùi vị” của tờ báo xuân quyến rũ đến ma quái thời niên thiếu là cái mùi giấy mới, mùi mực in vẫn còn hăng hắc lỗ mũi.
Báo xuân ngày trước thấy bày trên các sập báo là đã đưa ông Táo về trời, mùa xuân đã gõ cửa. Còn bây giờ do tính cạnh tranh khốc liệt của thị trường báo Tết nên báo xuân phát hành rồi mà còn… cả tháng nữa mới Tết, nên đọc báo xuân bây giờ phải để dành, đọc lai rai thôi, chờ mùa xuân tới.



TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Tư, 24 tháng 1, 2024

GÓC VIỆT THI : THƠ XUÂN CAO BÁ QUÁT (5)

 



Góc Việt Thi : 

                      Thơ Xuân  Cao Bá Quát (5)          
                           
     
* Bài thơ LẬP XUÂN HẬU NHẤT NHẬT TÂN TÌNH :

立春後一日新晴      LẬP XUÂN HẬU NHẤT NHẬT TÂN TÌNH
 
去日春來破舊寒,    Khứ nhật xuân lai phá cựu hàn,
今朝紅紫鬥千般。    Kim triêu hồng tử đấu thiên ban.
何當世事如花事,    Hà đang thế sự như hoa sự,
風雨江山盡改觀。    Phong vũ giang sơn tận cải quan.
         高伯适                         Cao Bá Quát





* Chú thích :
    - Tân Tình 新晴 : là Nắng mới (Sau ngày Lập Xuân).
    - Khứ Nhật 去日 : là Những ngày đã đi qua.
    - Kim Triêu 今朝 : là Sáng hôm nay.
    - Hồng Tử Đấu Thiên Ban 紅紫鬥千般 : Muôn hồng ngàn tía tranh nhau khoe sắc. 
               Thiên Ban 千般 : là Cả Ngàn vẻ, chỉ rất nhiều dáng vẻ.
    - Hà Đang 何當 : Sao mà có thể; Sao mà được...
    - Thế Sự 世事 là Chuyện đời; Hoa Sự 花事 là Chuyện chơi hoa.
    - Cải Quan 改觀 : là Thay đổi cách nhìn, thay đổi quan niệm.

* Nghĩa bài thơ :
                         Một Ngày Nắng Ráo Sau Tiết Lập Xuân
        Những ngày qua mùa xuân đã ngự về phá tan đi cái lạnh lẽo của những ngày tháng cũ. Sáng hôm nay hồng tía muôn ngàn dáng vẻ đang khoe sắc. Ước sao có thể xem chuyện đời như là chuyện chơi hoa, Sau một cơn mưa gió thì tất cả giang sơn đều đổi mới, đều có cái nhìn mới mẻ khác hơn xưa.




* Diễn Nôm :

                  Xuân đến hôm qua xua lạnh tan,
                   Sáng nay hồng tía thắm muôn ngàn.
                   Ước chi thế sự như hoa sự,
                   Đổi mới non sông đổi cảm quan.
      Lục bát :
                   Ngày qua xuân đến lạnh đi,
                   Sáng nay hồng tía hoa thi sắc màu.
                   Chuyện hoa như chuyện đời sao ?
                   Núi sông chuyển đổi sắc màu sau mưa ! 
                      
* Bài thơ BẠC XUÂN GIẢN NGUYỄN CHÍNH TỰ :

 薄春簡阮正字         BẠC XUÂN GIẢN NGUYỄN CHÍNH TỰ
  
薄暮思君君不來,      Bạc mộ tư quân quân bất lai,
披襟時借好風催。      Phi khâm thì tá hảo phong thôi.
過橋忽動聲聲履,      Quá kiều hốt động thanh thanh lý,
入室還傾滿滿杯。      Nhập thất hoàn khuynh mãn mãn bôi.
四海知交無我拙,      Tứ hải tri giao vô ngã chuyết,
百年心事共誰開。      Bách niên tâm sự cộng thuỳ khai.
多情為謝檳榔月,      Đa tình vị tạ tân lang nguyệt,
曾伴幽人孤夢回。      Tằng bạn u nhân cô mộng hồi.                                                                                   伯适                              Cao Bá Quát

       

   
  
* Chú thích :
    - Bạc Xuân 薄春 : là Mùa xuân mỏng, là Đầu Xuân, còn gọi là Tảo Xuân 早春 hay Sơ Xuân 初春. Giản 簡 : là Cái thẻ tre dùng để viết chữ ngày xưa khi chưa có giấy. Động từ có nghĩa là Gởi cái đã viết đi.
    - Bạc Mộ 薄暮 : Trời vừa mới ngã chiều, là hoàng hôn.
    - Phi Khâm 披襟 : Khoát vạt áo lên mình.
    - Lý 履 : là Bước chân, dấu giày. Lý Lịch 履歷 : là Những bước chân đã đi qua; Những việc đã từng trải.   
    - Vô Ngã Chuyết 無我拙 : CHUYẾT là Vụng về; nên VÔ NGÃ CHUYẾT là Không có ai vụng về như tôi.
    - Cộng Thùy Khai 共誰開 : Khai với ai đây ? Biết ngỏ cùng ai đây !
    - Tân Lang Nguyệt 檳榔月 : là Ánh trăng treo ở trên đầu cây cau. 
    - U Nhân 幽人 : Con người U nhã, người ẩn cư.

* Nghĩa bài thơ :
                               Đầu Xuân Gởi cho Nguyễn Chính Tự
        Trời đã về chiều đợi anh mà chẳng thấy anh tới. Khoát tà áo lên mình đứng đây mượn nhờ làn gió mát thổi. Lê bước chân sột soạt bước qua cầu để đi về (vì không đợi được nữa). Vào nhà rồi thì rót từng chén rượu đầy ăm ắp mà uống. Bạn bè trong bốn biển chẳng có ai vụng về và tệ như tôi cả. Tâm sự trăm năm ở trong lòng biết phải ngỏ cùng ai đây ? Tình cảm đầy ắp trong lòng chỉ còn biết nhờ vào ánh trăng trên đầu ngọn cau đã từng làm bạn với con người u ẩn nầy về với giấc mộng cô đơn mà thôi.  
        Cao Chu Thần đợi bạn không tới, không ai để đối ẩm, không ai để giải bày tâm sự, nên đâm ra lẫy hờn, nghĩ mình là người vụng về nên bạn chê không thèm đến, chỉ còn biết làm bạn với áng trăng trên đọt cau, rồi về với giấc mộng đơn côi của mình mà thôi !   





* Diễn Nôm :

                 Trời chiều nhớ bạn bạn không sang,
                 Khoát áo đợi chờ mượn gió than.
                 Lê gót xạc xào chân bước chậm,
                 Vào nhà ăm ằp rượu ly tràn.
                 Tri giao bốn bể như ta tệ,
                 Tâm sự trăm năm chẳng kẻ màng.
                 Gởi lại ngọn cau vầng trăng bạc,
                 Đã từng bầu bạn... giấc mơ tan !
   Lục bát :
                 Chiều trời đợi bạn không sang,
                 Áo tơi khoát vội gió tràn hơi xuân.
                 Qua cầu lê bước bâng khuâng,
                 Vào nhà đầy ắp ly gần ly xa.
                 Bạn bè tệ nhất là ta,
                 Trăm năm tâm sự khề khà với ai ?
                 Đa tình trăng ngọn cau đây,
                 Đã từng bầu bạn giờ nầy một thân.


* Bài Thơ XUÂN LAI TÂM LỰC LƯỠNG KHAM TĂNG :

春來心力兩堪憎 (病中) XUÂN LAI TÂM LỰC LƯỠNG KHAM TĂNG (BỆNH TRUNG)
  
春來心力兩堪憎,      Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng,
損盡腰圍瘦不勝。      Tổn tận yêu vi sấu bất thăng.
入世隻身千里馬,      Nhập thế chích thân thiên lý mã
看書雙眼萬年燈。      Khan thư song nhãn vạn niên đăng.
拙妻倚枕梳蓬鬢,      Chuyết thê ỷ chẩm sơ bồng mấn,
稚子牽衣藉曲肱。      Trĩ tử khiên y tạ khúc quăng.
一笑那知閒未得,      Nhất tiếu na tri nhàn vị đắc,
小爐煎茗淡於僧。      Tiểu lô tiên mính đạm ư tăng?
              高伯适                                Cao Bá Quát




     
* Chú Thích :
    - BỆNH TRUNG 病中 : Không phải Ở TRONG BỆNH, mà là ĐANG TRONG CƠN BỆNH.
    - TĂNG 憎 : Có bộ Tâm đứng 忄bên trái, nên có nghĩa là Ghét.
      TĂNG 僧 : Có bộ Nhân đứng 亻bên trái, nên có nghĩa là Thầy chùa (câu 8).
    - Yêu Vi 腰圍 : là Cái vòng eo.
    - Sấu Bất Thăng 瘦不勝 : Ốm đến không thể ốm hơn, Ốm nhách.
    - Chuyết Thê 拙妻 : CHUYẾT là Vụng về, THÊ là VỢ. CHUYẾT THÊ là Bà VỢ VỤNG VỀ. Ở đây có nghĩa là : Bà Vợ nhà tôi. Đó là cách nói theo phép lịch sự. Gọi vợ nhà là CHUYẾT THÊ; còn gọi vợ người là QÚY PHU NHÂN... 
    - Bồng Mấn 蓬鬢 : Tóc mai rối như cỏ bồng, chỉ "Đầu bù tóc rối".

* Nghĩa bài thơ :
                             病中 BỆNH TRUNG : TRONG CƠN BỆNH

     Câu 1 :  Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng 春來心力兩堪憎, Có nghĩa : Từ vào xuân đến nay, tâm và lực cả hai đều đáng ghét .  
     Câu 2 : Tổn tận yêu vi sấu bất thăng 損盡腰圍瘦不勝。 Có nghĩa : Vòng eo bị tổn thương ốm đến hết mức.(Ta có Thành ngữ : SẤU BẤT THẮNG Y 瘦不勝衣 là Ốm đến nỗi chịu không nỗi sức nặng của chiếc áo đang mặc. Chữ BẤT THẮNG 不勝 là Không chịu được, là Không thể. Ví dụ : BẤT THẮNG BI 不勝悲 là Buồn không chịu được, Buồn quá cở buồn. Ở trong câu nầy THẮNG phải đọc thành THĂNG cho đừng bị THẤT VẬN ).
   Câu 3. Nhập thế chích thân thiên lý mã 入世隻身千里馬, Có nghĩa : Vào đời như con ngựa đơn lẻ phải chạy trên con đường thiên lý. Ngầm ý của câu nầy là : Cao Bá Quát tự ví mình như con Thiên Lý Mã nhưng vào đời chỉ một thân một bóng !.
   Câu 4. Khán thư song nhãn vạn niên đăng 看書雙眼萬年燈。 Có nghĩa : Xem sách thì hai con mắt sáng như là hai ngọn đèn của muôn năm vậy.
   Câu 5. Chuyết thê ỷ chẩm sơ bồng mấn 拙妻倚枕梳蓬鬢, Có nghĩa : Vợ thì dựa gối mà chải cái đầu tóc rối bù (Thay vì phải ngồi trước bàn trang điểm, trước gương soi để chải tóc, nhưng nhà nghèo lấy đâu ra những thứ đó. Thức dậy quơ đại cây lược gần đâu đó rồi dựa vào gối mà chải đở cho đầu bớt rối để còn đi làm việc nhà, lo nấu nước pha trà cho chồng chẳng hạn !).
   Câu 6. Trĩ tử khiên y tịch khúc quăng 稚子牽衣藉曲肱。 Có nghĩa : Con thơ kéo áo rồi (mượn tà áo đó, Chữ TẠ :là Nhờ vào, Vựa vào. Nếu đọc là TICH thì có nghĩa là HỘ TỊCH, THƯ TỊCH...) gác tay gối đầu (mà nằm).Ta có Thành Ngữ : KHÚC QUĂNG NHI CHẨM 曲肱而枕 là Co cánh tay lại mà gối đầu lên, chỉ cách nằm nhàn nhã vô tư của các đứa bé.
   Câu 7. Nhất tiếu na tri nhàn vị đắc 一笑那知閒未得, Có nghĩa : Cười khẩy một tiếng biết đâu rằng còn chưa thể nhàn nhã được. NHẤT TIẾU : Cười ruồi, cười khẩy, cười buồn một cái, cười không phải tại vui mà cười !
   Câu 8. Tiểu lô tiễn mính đạm ư tăng 小爐煎茗淡於僧。Có nghĩa : Cái lò nhỏ nấu trà cho sắc lại (TIỄN : là Nấu cho sắc lại, là Chiên)  để đừng quá nhạt nhẽo như trà của các nhà sư uống ! Thơ xưa có câu : Bố y sơ phạn đạm ư tăng 布衣蔬饭淡於僧 có nghĩa : Áo vải cơm rau đạm bạc (nhạt nhẽo) như các nhà sư. Trong câu nầy có chữ MINH 茗 là Trà, phải đọc thành MÍNH cho đừng THẤT LUẬT.




* Diễn Nôm :                     
                      
                            Xuân nay tâm lực thảy ưu sầu,
                            Thân ốm mình gầy chẳng nói đâu.
                            Chiếc bóng vào đời như ngựa lẻ,
                            Ngàn năm đọc sách tựa đèn thâu.
                            Vợ nghèo chảy tóc tai bù rối
                            Con trẻ trì tay áo gối đầu. 
                            Cười khẻ muốn nhàn sao thế được,
                            Tựa chùa trà nhạt rõ đun lâu !            
             Lục bát :
                           Ghét sao tâm lực xuân nay,
                           Ốm o thân xác bao ngày bệnh trung.
                           Vào đời tựa ngựa chiếc thân,
                           Xem thơ đọc sách sáng ngần đôi ngươi.
                           Vợ nghèo chảy tóc rối nùi,
                           Con kéo tay áo lui cui gối đầu.
                           Nực cười nhàn có được đâu,
                           Trà chùa vốn nhạt đun lâu... nhạt phèo !
                                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

      Hẹn bài dịch tới !


                                                        杜紹德
                                                     ĐỖ CHIÊU ĐỨC
                


Thứ Ba, 23 tháng 1, 2024

DÁNG XUÂN - THƠ NHẬT QUANG

 




DÁNG XUÂN

Ra Giêng xanh biếc mây trời
Lả lơi ong, bướm ươm ngời sắc Xuân
Dịu dàng em đóa thanh tân
Nguyên trinh áo lụa trắng ngần nghiêng bay

Ru tình Xuân ấm vòng tay
Môi ngoan chúm chím hương say đắm nồng
Gió mơn man nhẹ tóc bồng
Nắng Xuân có ấm tô hồng má em?

Thướt tha dáng liễu bên rèm
Ra Giêng em bước qua thềm ngây thơ
Tuổi hồng dệt mộng ước mơ...
Dáng Xuân e ấp...tình thơ đong đầy.


NHẬT QUANG


GÓC ĐƯỜNG THI: THƠ TẾT CỦA DIỆP NGUNG - ĐỖ CHIÊU ĐỨC DIỄN NÔM




 Góc Đường Thi :   

                                THƠ TẾT của DIỆP NGUNG

                       

                                    Kỷ Dậu Tân Chính


       DIỆP NGUNG 葉顒 (1296-?) tự là Cảnh Nam 景南, người đất Kim Hoa thuộc Kim Hoa Phủ. Ẩn cư ở cuối đời Nguyên, đến đầu đời Minh mới ứng thí, đậu Tiến sĩ, làm Hành Nhân Tư Phó, Sau từ quan về dạy học, Học trò rất đông. Dưới đây là bài thơ mừng năm mới của ông :

 己酉新正          KỶ DẬU TÂN CHÍNH
天地風霜盡,     Thiên địa phong sương tận,
乾坤氣象和;     Càn khôn khí tượng hòa. 
曆添新歲月,     Lịch thiêm tân tuế nguyệt,
春滿舊山河;     Xuân mãn cựu sơn hà. 
梅柳芳容稚,     Mai liễu phương dung trĩ,
松篁老態多;     Tùng hoàng lão thái đa.
屠蘇成醉飲,     Đồ Tô thành túy ẩm,
歡笑白雲窩。     Hoan tiếu bạch vân oa.
            葉顒                       Diệp Ngung





* Chú thích :
    - KỶ DẬU TÂN CHÍNH 己酉新正 : Ngày Mùng Một năm Mới KỶ DẬU.
    - Lịch 曆 : để xem ngày tháng, có bộ Nhật 日 là Ngày bên dưới.
           歷 : là trải qua, vượt qua, có bộ Chỉ 止 là Dấu chân bên dưới.
    - Càn Khôn 乾坤 : là Trời đất, Vũ trụ.
    - Tùng Hoàng 松篁 : cây Tòng (thông) và Hoàng là cây tre, là rừng tre già.
      TÙNG HOÀNG là Thông và Tre hai loại cây vẫn xanh tốt trong mùa đông.
    - Đồ Tô 屠蘇 : Tên một loại rượu dược thảo uống vào ngày mùng một Tết.
    - Bạch Vân Oa 白雲窩 : Cái ổ của mây trắng, tức là Ở tuốt trên trời cao.

* Nghĩa bài thơ :
                       NGÀY ĐẦU NĂM MỚI KỶ DẬU
        Gió sương của trời đất trong mùa đông đã kết thúc rồi. Khí tượng của vũ trụ càn khôn đã dung hòa trở lại. Quyển lịch cũng đã thêm những ngày tháng mới. Xuân đã về trên khắp núi sông xưa. Dáng dẻ phương phi của mai và liễu trông như non trẻ hơn, còn các cây thông và tre già thì thêm cằn cỗi hơn ra. Rượu Đồ Tô uống để mừng xuân mà cũng say túy lúy, niềm vui đón xuân cao ngất vươn theo các làn mây trắng trên không.
        Diệp Ngung đã đón xuân một cách vui vẻ nhiệt tình, cùng vui với đất trời cỏ cây hoa lá đang đổi mới khi xuân về, rồi lại cùng say túy lúy với nàng xuân !



* Diễn Nôm :

                  Trời đất gió sương hết,
                  Càn khôn khí tượng thay.
                  Lịch thêm ngày tháng mới,
                  Xuân đến núi sông dài.
                  Mai liễu ươm mầm mới,
                  Tre tùng giữ dáng nay.
                  Rượu Đồ Tô túy Lúy,
                  Niềm vui mây trắng bay !
       Lục bát : 
                  Đất trời sương lạnh hết rồi,
                  Càn khôn khí tượng đổi vời khắp nơi.
                  Lịch thêm ngày tháng mới rồi,
                  Xuân về trên khắp núi đồi nước non.
                  Liễu mai tranh nẩy mầm non,
                  Tùng tre vẫn giữ dáng còn gìa nua.
                  Rượu Đồ Tô uống say sưa,
                  Vút cao mây trắng cười đùa vui xuân.

                                          Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

       

      Mong rằng tất cả mọi người, mọi giới đều vui vẻ đón xuân với một tâm tình mở rộng và thoải mái vui xuân như là thi nhân Diệp Ngung vậy !

     Hẹn bài dịch tới !

                                    
                  杜紹德
              ĐỖ CHIÊU ĐỨC



MÙI TẾT - TRẦN HỮU NGƯ

 




MÙI TẾT…

Tôi mất mùi Tết từ những năm rời bỏ thôn quê để về thành thị. Thật khó diễn tả bằng lời rằng cái “mùi Tết” ấy là mùi gì, chỉ có người nhà quê mới ngửi được, khi trên bàn thờ trưng bánh trái, hoa quả chuẩn bị cho chiều 30 cúng ông bà. Mùi Tết là một thứ mùi khác với mùi hương mà chỉ trong năm ba ngày Tết ở nhà quê mới có. Dù sống ở đâu, những ngày giáp Tết, những lo toan, phiền muộn cũng tạm gác một bên, chờ ra giêng rồi hãy tính, lo ăn Tết cái đã!… Tôi xa quê đã lâu, trong mỗi chúng ta, dù bất cứ ở nơi đâu và cho dù đời sống có khó khăn thế nào, nhưng vẫn phải ăn Tết trong những điều kiện mà mình có được, vì dẫu sao, mỗi năm chỉ có... một lần Tết!
Tết nông thôn vui hơn thành thị, chỉ việc 30 Tết nghe tiếng eng éc của heo là nhớ nồi thịt kho măng cuốn bánh tráng, tiếng quang quác của gà là biết thực đơn, trước sân nồi bánh tét sôi sùng sục ngun ngút khói, những hình ảnh ấy nông thôn mới có mỗi năm một lần. Nhìn nông thôn vào Tết như khoát lên mình bộ áo mới, ngoài vườn cây cỏ đâm chồi nảy lộc, hoa lá tốt tươi, trong nhà lư đồng, nồi niêu xoong chảo, chén bát, ly tách, cửa nhà… sáng choang, và hình như Tết người ta rộng rãi hơn, yêu thương hơn, và từ bi hơn!
Sài Gòn cách quê tôi non hai trăm cây số, một tỉnh cuối Trung đầu Nam, nhưng với thời buổi “tốc độ” và phương tiện hiện đại như hiện nay thì hai trăm cây số ấy chẳng “nhằm nhò” gì cả, ấy vậy mà bao nhiêu năm rồi lại không về được để ăn Tết chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình! Trong tâm thức mỗi người, cho dù ai có sang giàu đến đâu, nhưng ăn Tết trên mảnh đất quê hương thứ hai thì cũng thấy bớt đi thi vị của ngày Tết, không như ngay chính nơi mình sinh ra và lớn lên, đầy ắp những kỷ niệm của những ngày đầu trên, xóm dưới, nhà nhà, người chộn rộn chuẩn bị ăn Tết.



Tôi ăn Tết ở Sài Gòn mấy chục năm qua tuy không đến nỗi nào, nhưng nói thật với lòng mình rằng vẫn cảm thấy thiêu thiếu cái gì ấy... Vật chất, tình cảm, tinh thần? Không. Không thiếu. Chỉ thiếu... mùi Tết mà ở bất cứ nhà quê nào cũng ngửi được cái mùi Tết ấy.
Tôi là một đứa bé con nhà nghèo, “...Mới tháng ba đã ngóng mong đến Tết! Để được ăn cơm no có thịt. Một bữa một ngày...” (Thơ Phùng Quán). Trong tôi, Tết, để được mặc quần áo mới, được ăn ngon, ăn no hơn ngày thường. Thanh niên, thiếu nữ và trẻ con ngày nay “ngày nào cũng là Tết”, nên không có cái chờ đợi Tết như chúng tôi ngày xưa, chờ đợi, háo hức, nôn nao, sáng mùng Một là diện quần áo mới đi khoe, còn phải cắt tóc chải đầu láng mượt!
Năm ba ngày Tết, dù giàu hay nghèo cũng phải ráng có hoa quả đơm trên bàn thờ tổ tiên, sắm một mâm cơm cúng chiều ba mươi Tết. Ngày ấy… tôi quanh quẩn bên mâm cúng, nhìn những cây nhang, mong chúng mau tàn (thường thì nhang tàn, coi như tổ tiên ông bà đã xơi xong) nhìn con gà, miếng thịt mà thèm chảy nước miếng, đợi người lớn nói “xong rồi, dọn xuống” là như mở cờ trong bụng “ăn một bữa có thịt”, và những ngày sau đó lại trông mau hết Tết để... được ăn những đồ cúng trên bàn thờ!
Mỗi gia đình người Việt đều có cái bàn thờ. (Các dân tộc khác trên thế giới có hay không thì tôi không biết). Tùy theo cách xếp đặt của gia chủ, nhưng bàn thờ bao giờ cũng được để ở nơi quan trọng (nhìn bàn thờ, người ta có thể đoán được thành phần xuất thân của gia chủ) và cho dù chủ gia có thuộc thành phần nào đi chăng nữa, như trí thức, bình dân, sang hèn, giàu nghèo... tất cả đều mang nét tâm linh như nhau khi đứng trước bàn thờ! Tuy nhiên, chỉ ở nhà quê cách đặt để bàn thờ đều giống nhau: Bước vào nhà, việc đầu tiên là thấy cái bàn thờ ở chính giữa, còn hai bên và phía sau là những thứ khác... và một truyền thống có từ lâu đời, là trong những ngày Tết trên bàn thờ những món bắt buộc, phải có là chuối sứ, đây là loại chuối bình thường hằng ngày đều có, nhưng trong những ngày Tết nó có giá lắm, và người ta phải dặn trước từ rằm tháng 12 âm lịch và chiều 30 Tết mới chặt về đơm trên bàn thờ cùng với bưởi, cam quít, hoa vạn thọ, bánh cốm (loại bánh làm bằng nếp rang, trộn đường, đóng thành hộc, hình vuông hay hình chữ nhật, làm thủ công. Ngày nay quê tôi ít ai ai làm loại cốm này mà chỉ việc ra chợ mua cốm công nghiệp, cứng như đá và không có… mùi!). Mùi hoa vạn thọ, mùi bưởi, mùi nhang, mùi cốm, mùi chuối… những mùi rất “nhà quê” ấy quyện vào nhau bay quanh quẩn trên bàn thờ rồi lan tỏa xung quanh tạo thành một mùi rất đặc trưng là... mùi Tết. Mùi Tết chỉ có vậy, và chỉ những ai đã từng sống và ăn Tết ở quê mới cảm nhận được cái mùi Tết, xa quê, mỗi khi Tết về lại nhớ cái mùi ấy, nó là loại mùi chớ không phải là hương!
Cũng vì nhớ cái mùi Tết ấy, nên có lần Tết đến, tôi tạo cho mình một không gian nhỏ để làm chiếc bàn mà trên đó tôi trưng bày những món nhà quê giống từ thập niên 60 như hồi còn ở quê, thậm chí cốm Tết, thứ đặc sản còn sót lại của những gia đình hoài cổ chỉ đến Tết mới làm, tôi đặt mua từ Phan Thiết, cốt chỉ để chỉ nghe được… mùi Tết, nhưng tôi thất vọng vì không nghe thấy như ở quê mình của thời chưa “nông thôn hóa thành thị”. Có lẽ, mùi thành thị quá mạnh đã khỏa lấp cái mùi nhà quê ấy chăng? Mà thật lạ, cũng cùng những thứ ấy bày biện trên bàn thờ của nhà một người bạn ngoài quê, bước vào là nghe có mùi Tết ngay!
Đến Tết ở nhà quê, nhà nào cũng có hoa vạn thọ, đây là thứ hoa chủ lực, “hoa tổ tiên” biểu hiện nếp sống lâu đời (vạn thọ), hoa không phải để trang điểm mà để cúng trên bàn thờ. Lá vạn thọ có thể làm rau chấm nước cá kho, ăn nghe có mùi hăng hắc, cay cay, đăng đắng.
Còn chuối sứ phải là thứ chuối trái “u-nu-úp-núp”, chín hườm từ trên cây chặt xuống, o bế đừng để trầy xước, đơm trên bàn thờ, và sau năm ba ngày Tết là chuối chín rục ăn không hết đem ép, phơi khô, để dành đến tươm mật, ăn lai rai ...
Bây giờ, Tết trên bàn thờ không còn ai đơm chuối sứ, hoa vạn thọ nữa và thay vào đó là những thứ hoa trái đắt tiền, những đồ ăn thức uống được dán kín toàn là đồ ngoại nhập, thậm chí hai cây đèn cầy bằng điện, cây nhang cũng bằng điện... xanh đỏ chớp tắt suốt ngày đêm. Nếu ông bà có hiện về, thấy cảnh này chắc cũng phải chau mày, sửng sốt vì lúc sanh tiền họ chưa từng thấy những thứ này!
Những đồ ăn thức uống ngoại nhập đắt tiền chỉ là “hương” của ngày Tết hòa bình chớ không phải “mùi” Tết của những năm tháng chiến tranh. Nhưng sao tôi vẫn nhớ cái mùi ấy mỗi khi xuân về, mặc dù chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, và tôi đã bỏ xứ mà đi nên đã mất mùi Tết từ độ tha phương ấy… Cái mùi Tết tuy dẫu chỉ là mùi của cây nhà lá vườn, nhưng là mùi rất đặc trưng của dân quê mà tôi ngửi được, thấy được… từ đồng chua nước mặn!


TRẦN HỮU NGƯ