Góc Đường Thi :
Năm mươi bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (2)
TIẾT OÁNH 薛瑩 Thi nhân đời Vãn Đường, không rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông sống dưới đời vua Đường Văn Tông (809-840). Cái thời mà vẻ hưng thịnh phồn vinh của nhà Đường đã tàn lụi đi rồi, và sự nổi dậy của nông dân do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo đã đưa nhà Đường đến những giây phút cuối như nắng chiều sắp tắt. Sống trong thời buổi nhiễu nhương loạn lạc của cảnh tang thương biến đổi, ta hãy nghe sự cảm thán của ông qua bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt sau đây...
6. Bài thơ THU NHẬT HỒ THƯỢNG 秋日湖上 của Tiết Doanh :
落日五湖遊, Lạc nhật ngũ hồ du,
煙波處處愁。 Yên ba xứ xứ sầu.
浮沈千古事, Phù trầm thiên cổ sự,
誰與問東流。 Thùy dữ vấn đông lưu !?
* Chú thích :
- THU NHẬT HỒ THƯỢNG 秋日湖上 : Ngày thu trên hồ.
- Ngũ Hồ 五湖 : Ở đây chỉ Thái Hồ của tỉnh Giang Tô, nơi bắt đầu của Ngũ Đại Hồ.
- Phù Trầm 浮沉 : là Nổi Chìm; trong thơ chỉ tình trạng của xã hội phồn vinh hay cùng khổ; Quốc gia cường thịnh hay suy vong... Câu thơ nầy còn có dị bản là TRẦM PHÙ 沈浮 (Chìm nổi). Nhưng "Phù trầm" hay "Trầm phù" gì thì ý nghĩa cũng như nhau mà thôi.
* nghĩa bài thơ :
NGÀY THU TRÊN HỒ
- Đi dạo bên bờ Thái Hồ trong cảnh mặt trời chen lặn của nắng chiều...
- Khói sóng mờ mịt khắp nơi khiến người ta không khỏi sầu muộn...
- Nổi chìm chìm nổi là chuyện của ngàn đời...
- Có ai hỏi vì sao mà nước chảy về đông không ?!
Với lời thơ giản dị dễ hiểu, nhưng cũng dễ đánh động lòng người với dòng nước luôn chảy về đông và khói sóng mờ mịt trên mặt Thái Hồ khi mắng chiều sắp tắt, làm cho Tiết Oánh cảm thấy chuyện nổi chìm trên mặt nước cũng giống như là chuyện nổi chìm hưng suy thành bại của thế cuộc và của đất nước trong mấy ngàn năm qua vậy, Nhất là làm cho người ta phải cảm khái trước thời buổi suy vi của triều Đại nhà Đường đã từng vang bóng một thời, giờ thì cũng như dòng nước luôn chảy về đông mà cũng không ai buồn hỏi : Tại sao tất cả các dòng sông đều chảy về đông vậy !? Vì đó là quy luật bất di bất dịch của ngàn đời, là sự tuần hoàn tự nhiên của tạo hóa cứ theo dòng thời gian mà trôi chảy mãi đến muôn đời !...
* Diễn Nôm :
NGÀY THU TRÊN HỒ
Chiều xuống dạo Thái Hồ,
Khói sóng sầu mênh mông.
Nổi chìm ngàn năm ấy,
Ai hỏi nước về đông ?!
Lục bát :
Nắng chiều xuống dạo Ngũ Hồ,
Khắp nơi khói sóng mơ hồ sầu dâng.
Nổi chìm là chuyện ngàn năm,
Về đông ai hỏi những dòng sông chi ?!
7. Bài thơ TÚC KIẾN ĐỨC GIANG 宿建德江 của Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 :
移舟泊煙渚, Di chu bạc yên chử,
日暮客愁新。 Nhật mộ khách sầu tân.
野曠天低樹, Dã khoáng thiên đê thọ,
江清月近人。 Giang thanh nguyệt cận nhân !
Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
* Chú thích :
- TÚC KIẾN ĐỨC GIANG 宿建德江 : Qua đêm trên dòng sông Kiến Đức.
- Bạc 泊 : là Ghé, là Đậu thuyền lại.
- Yên Chử 煙渚 : YÊN là Khói, ở đây chỉ Khói sóng, là hơi nước bốc lên trên sông khi chiều xuống. CHỬ 渚 : là Bến nước hay Cù lao nhỏ trên sông. YÊN CHỬ là Bến nước phủ đầy khói sóng trên sông khi chiều xuống.
- Khách Sầu 客愁 : Nỗi sầu buồn nơi đất khách.
- Dã Khoáng 野曠 : Đồng trống; Nơi Đồng không mông quanh.
- Cận 近 : là Thân cận, gần gũi.
* Nghĩa bài thơ :
QUA ĐÊM TRÊN SÔNG KIẾN ĐỨC
- Dời thuyền để cập vào bến nước đầy khói sóng...
- Trời về chiều lại thêm nỗi sầu mới nơi đất khách.
- Giữa chốn đồng không mông quạnh nầy thấy trời như thấp hơn cây...
- Nước sông trong nên thấy trăng như gần gũi thân cận với người hơn.
Nỗi buồn man mác thất ý của một lữ khách đậu thuyền trên bến sông đầy khói sóng khi trời đã về chiều. Một nỗi buồn nhẹ nhàng giữa chốn đồng không mông quạnh, thấy trời như thấp hơn cây rừng; và vì làn nước trong lắp loáng ánh trăng, nên lại thấy trăng như gần gũi thân cận hơn với con người. Quả là một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác nên thơ của một kẻ sĩ bất đắc chí trong cảnh trời chiều...
* Diễn Nôm :
TÚC KIẾN ĐỨC GIANG
Dời thuyền bên bờ khói sóng,
Trời chiều lòng khách ngẩn ngơ.
Đồng trống cây cao trời thấp,
Nước trong trăng chiếu người thơ.
Lục bát :
Dời thuyền bên bến khói mờ,
Trời chiều lòng khách ngẩn ngơ thêm sầu.
Cây cao trời thấp đồng sâu,
Sông trong in bóng trăng thâu cạnh người !
8. Bài thơ THU TRIÊU LÃM KÍNH 秋朝覽鏡 của Tiết Tắc 薛稷 :
客心驚落木, Khách tâm kinh lạc mộc,
夜坐聽秋風。 Dạ tọa thính thu phong.
朝日看容鬢, Triêu nhật khan dung mấn,
生涯在鏡中。 Sinh nhai tại kính trung !
Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
* Chú thích :
- THU TRIÊU LÃM KÍNH 秋朝覽鏡 : THU TRIÊU là Sáng mùa thu; LÃM KÍNH là Soi gương; Nên THU TRIÊU LÃM KÍNH là "Soi gương trong buổi sáng mùa thu".
- Kinh 驚 : Ở đây không có nghĩa là SỢ, mà là "Giật mình" vì ngạc nhiên.
- Lạc Mộc 落木 : là nói gọn lại của nhóm từ "Lạc Diệp kiều Mộc 落葉喬木" chỉ các loại cây có thân cao to và rụng lá vào mùa thu đông; Nên LẠC MỘC là "Lá rụng" chớ không phải là "Cây đổ ngã".
- Dung Mấn 容鬢 : DUNG là Dung nhan; MẤN là Tóc mai. Nhưng DUNG MẤN là từ chỉ chung "Tóc tai mặt mũi", là Dung nhan râu tóc.
- Sinh Nhai 生涯 : là Cách sinh sống, nghề nghiệp sinh sống, là "Đời sống" nói chung. Trong câu thơ hàm ý chỉ "Những nét phong sương cằn cỗi hay già nua do chạy theo cuộc sống mà hình thành trên khuôn mặt.
* Nghĩa bài thơ :
SÁNG THU SOI GƯƠNG
- Nỗi lòng của người khách xa quê chợt giật mình khi thấy lá rụng...
- Đêm ngồi nghe tiếng gió thu xào xạc hiu hắt suốt đêm.
- Sáng ngày soi gương thì thấy dung nhan tóc tai mặt mũi...
- Hiện rõ hết những nét phong sương cằn cỗi già nua vì cuộc sống ở trong gương!
Giật mình khi thấy lá rụng, vì chợt hiểu ra là mùa thu đã đến đây rồi. Thời gian luôn luôn âm thầm lặng lẽ nhưng rất tích cực qua đi đối với những người gởi thân nơi đất khách. Khi biết được mùa thu đã về và năm cũng đã gần hết nên lại trằn trọc suốt đêm không ngủ được vì tiếng thu xạc xào vi vút suốt canh thâu, để đến sáng ngày soi gương thì lại giật mình thêm lần nữa vì tóc tai mặt mũi bơ phờ, sớm già nua vì bôn ba theo cuộc sống !
* Diễn Nôm :
THU TRIÊU LÃM KÍNH
Khách bàng hoàng lá rụng,
Gió thu suốt đêm trường.
Sáng ra nhìn râu tóc,
Bơ phờ dáng trong gương !
Lục bát :
Lá rơi lòng khách bàng hoàng,
Đêm ngồi nghe tiếng thu sang gió vàng.
Sáng ngày lặng ngắm dung nhan,
Sinh nhai tiều tụy võ vàng trong gương !
9. Bài thơ LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH 立秋前一日覽鏡 của Lý Ích 李益 :
立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH
萬事銷身外, Vạn sự tiêu thân ngoại,
生涯在鏡中。 Sinh nhai tại kính trung.
唯將兩鬢雪, Duy tương lưỡng mấn tuyết,
明日對秋風。 Minh nhật đối thu phong !
* Chú thích :
- 立秋前一日覽鏡 LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH : TIỀN NHẤT NHẬT là Trước một ngày; LÃM KÍNH là Soi gương. Nên tựa bài thơ là : Soi Gương Trước Lập Thu Một Ngày.
- Tiêu 銷 : là Tiêu phí, hao mòn.
- Mấn Tuyết 鬢雪 : chỉ Tóc mai bạc trắng như tuyết.
* Nghĩa bài thơ :
SOI GƯƠNG TRƯỚC LẬP THU MỘT NGÀY
- Muôn việc đều đi qua và biến mất hết ở ngoài thân ta; Duy chỉ có...
- Tóc tai mặt mũi bị cỗi cằn vì năm tháng là còn lại trong gương mà thôi.
- Chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy, để...
- Ngày mai đối mặt với gió thu hiu hắt mà thôi !
Soi gương trước Tiết Lập Thu một ngày đã thấy mặt mũi tiều tụy hốc hác rồi, ngày mai đã chính thức vào thu với gió vàng hiu hắt mà ta thì chỉ còn có hai làn tóc mai bạc trắng như tuyết nầy mà thôi; Không biết khi đã vào thu rồi thì mặt mũi tóc tai còn tàn tạ đến như thế nào nữa đây ?!
Lý Ích đã rất cảm khái khi sử dụng lại câu thơ "生涯在鏡中 Sinh nhai tại kính trung" của nhà thơ tiền bối Tiết Tắc, nhưng lại sử dụng môt cách thật khéo léo để mở đầu cho bài thơ bằng một cặp đối xứng thật hay:
萬事銷身外, Vạn sự tiêu thân ngoại,
生涯在鏡中。 Sinh nhai tại kính trung.
Muôn việc tan ngoài thân xác,
Dung nhan còn lại trong gương.
Ngày xưa, không có chú trọng đến chuyện "đạo văn" (ăn cắp văn thơ của người khác) Chỉ cần sử dụng lại cho khéo cho hay thì đó là của mình rồi. Điều nầy ta sẽ thấy rất thường ở đời Tống, khi thể loại TỪ với câu ngắn dài được phát triển mạnh... Các nhà sáng tác TỪ hay sử dụng lại những câu thơ Đường nổi tiếng để điền vào bài Từ của mình. Như trong bài từ GIÁ CÔ THIÊN 鹧鸪天 của Tống Kỳ đời Tống sau đây "
畫轂雕鞍狭路逢, Họa cốc điêu yên hiệp lộ phùng,
一聲腸断绣帘中。 Nhất thanh trường đoạn tú liêm trung.
身無彩鳳雙飛翼, Thân vô thái phụng song phi dực,
心有靈犀一点通。 Tâm hữu linh tê nhất điểm thông.
金作屋,玉為籠, Kim tác ốc, Ngọc vi lung.
車如流水馬游龍。 Xa như lưu thủy mã du long,
劉郎已恨蓬山遠, Lưu Lang dĩ hận Bồng sơn viễn,
更隔蓬山幾萬重。 Cánh cách Bồng sơn kỷ vạn trùng !
Có nghĩa :
Xe vua trạm trổ đẹp qua đường,
Một tiếng ai kêu luống đoạn trường.
Hận không đôi cánh như chim phượng,
Lòng tựa Linh tê đã vấn vương.
Nhà vàng đó, lầu ngọc suông,
Ngựa xe như nước chạy bon bon,
Chàng Lưu vốn hận Bồng Lai cách,
Lại cách Bồng Lai mấy vạn đường !
Bài từ trên của Tống Kỳ cơ bản là cóp nhặt chắp vá 4 câu của 2 bài thơ VÔ ĐỀ của Lý Thương Ẩn và một câu trong bài từ VỌNG GIANG NAM của Lý Hậu Chủ (Các câu có màu đỏ) tập hợp lại để diễn tả nỗi lòng tương tư tưởng nhớ của mình với người cung nữ trong cung cấm một cách tuyệt vời. Những câu thơ của người đời trước như làm sẵn để cho Tống Kỳ vay mượn vậy. Điều nầy nếu xảy ra trong thời buổi hiện tại thì là "đạo thơ" của người khác, nhưng thời buổi bấy giờ chưa có "Quyền Sở hữu Bản Quyền". Ta có thể lấy thơ của người khác sửa đổi hay thêm thắc thành thơ của mình, miễn sao cóp nhặt chắp vá cho hay, cho mới mẻ, cho sát sao với tình cảnh hoặc tâm trạng của mình lúc đó là được rồi !
* Diễn Nôm :
LẬP THU TIỀN NHẤT NHẬT LÃM KÍNH
Muôn việc tan ngoài thân xác,
Dung nhan còn lại trong gương.
Hai làn tóc mai tuyết trắng,
Mai ngày thu đến gió sương !
Lục bát :
Muôn việc tan biến ngoài thân,
Dung nhan tiều tụy tần ngần trong gương.
Tóc mai như tuyết như sương,
Mai ngày lại đón ngập đường gió thu !
10. Bài thơ TƯ QUY 思歸 của Vương Bột.
VƯƠNG BỘT cùng với Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn tài thi tài ngang nhau, người đời xưng là "Sơ Đường Tứ Kiệt ". Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣序", để lại một giai thoại văn chương về câu nói "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送滕王閣", và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.
Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng của ông.
思歸 TƯ QUY
長江悲已滯, Trường Giang bi dĩ trệ,
萬里念將歸。 Vạn lý niệm tương quy.
況屬高風晚, Huống thuộc cao phong vãn,
山山紅葉飛。 Sơn sơn hồng diệp phi.
Bản viết tay năm 1972
* Chú thích :
- TƯ QUY 思歸 : là Nghĩ tới ngày về, có nghĩa là "Muốn Về". Bài nầy còn có tựa là SƠN TRUNG 山中 là "trong Núi". Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :
Huống PHỤC cao SƠN VIỄN, 況復高山遠,
Sơn sơn HOÀNG diệp phi. 山山黃葉飛。
* HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...
* CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...
* CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.
- BI DĨ TRỆ 悲已滯 : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ (như không trôi chảy).
- NIỆM TƯƠNG QUY 念將歸 : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi.(Ý nói : Muốn về mà không về được !)
- HỒNG DIỆP 紅葉 hay HOÀNG DIỆP 黃葉 gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng "Lá Vàng" để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng "Lá Đỏ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :
"Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo !"...
hoặc thi vị hơn như Tản Đà :
"Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,
Lá bay hàng xóm lá bay sang....
để rồi...
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng !"
* Diễn Nôm :
MUỐN VỀ
Trường Giang sầu nước lửng,
Muôn dặm muốn về ngang.
Núi cao ngăn quê cũ ,
Non non rụng lá vàng !
Lục bát :
Trường Giang nước đọng lòng sầu,
Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.
Núi cao ngăn cách làng quê,
Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !
Hẹn bài dịch tới !
杜紹德
ĐỖ CHIÊU ĐỨC
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét