NHẠC CUNG TIẾN, NHỮNG GAM MÀU TÊ TÁI!
-Một bài viết đã lâu, nhưng chiều ngày 22.3.2026, lúc 14giờ trên VTV3 có chiếu chương trình “Giai điệu kết nối” giới thiệu tiếng hát nam ca sĩ L.A.D, và ca sĩ này có hát ca khúc HƯƠNG XƯA của CUNG TIẾN, nên tôi đăng lại bài viết này.
Tôi mong rằng, GIAI ĐIỆU KẾT NỐI sẽ không phân biệt “nhạc trước 1975” ở miền Nam, và sẽ cho hát “những bài hát hay”, miễn sao những bài hát cũ “không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới”, dù nhạc sĩ ở phía “Bên thua cuộc”.
Khi MC phỏng vấn ca sĩ L.A.D, anh nói rằng, HƯƠNG XƯA là một nhạc phẩm tiền chiến, và trong bài có nhiều từ cổ, triết lý, người trẻ sẽ không hiểu được? Tôi đồng ý với anh câu nói nói này, nhưng riêng “từ cổ” thì tôi xin nói một chút theo sự hiểu biết của mình: Nhạc phẩm HƯƠNG XƯA của Cung Tiến, không dùng “từ cổ”, “triết lý”, mà dùng… điển tích.
Nhạc Cung Tiến gắn liền với ca sĩ Mai Hương, rất vui khi nghe ca sĩ L.A,D hát “Hương Xưa”. “Hương xưa” nói riêng, và nói chung tất cả những ca khúc của Cung Tiến, đều khó hát. Nhưng mới nghe một lần L.A.D hát nên chưa đánh giá được gì!
Theo cá nhân tôi, tôi chưa nghe ca sĩ nào hát nhạc Cung Tiến vượt qua “lằn ranh xanh” ca sĩ Mai Hương?
….
-Cung Tiến, người nhạc sĩ sáng tác nhạc sang trọng bậc nhất Việt Nam?
-Rất tiếc, anh sáng tác quá ít!
-Anh tự nhận mình không phải là nhạc sĩ?
-Bây giờ ca sĩ Diva, ND, Ưu tú có hát được nhạc Cung Tiến?
-Nhạc Cung Tiến khó hát, nhưng dễ nghe (khác với nhạc bây giờ dễ hát nhưng khó nghe)
-Nhạc Phạm Duy có Thái Thanh
-Nhạc Trịnh Công Sơn có Khánh Ly
-Nhạc Cung Tiến có Mai Hương
-Nhạc Trúc Phương có Thanh Thúy
-Nhạc Phương có Lê Uyên
-Nhạc Nguyễn Văn Đông có Hà Thanh
V.v…
Nếu nói nhạc Cung Tiến là trữ tình, lãng mạn, hay những từ hoa mỹ nào khác để diễn tả về nhạc anh…,tất cả đều phiến diện. Từ những lời ca, nốt nhạc trong sự trau chuốt từng nhạc phẩm của anh, để chúng ta nghe, thấy, rồi nói rằng, nhạc Cung Tiến là “Những gam màu tê tái” là không có gì cường điệu, và “Màu tê tái” xuất phát từ ý tưởng nhạc phẩm THU VÀNG. Đây cũng là nhạc phẩm anh viết tặng Hanoi, những ngày thơ ấu:
“… Nhặt lá vàng rơi
Xem màu lá con tươi
Nghe chừng như đây màu tê tái…”.
Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hanoi. Chưa rõ anh và gia đình vào Nam năm nào, nhưng từ năm 1957 Cung Tiến theo học ngành kinh tế ở Úc.
Những năm 1950 đến 1960, anh viết những bài phê bình, nhận định văn học với Bút hiệu Thạch Chương, và anh sống ở Hoa Kỳ, thỉnh thoảng có viết báo ký tên Đăng Hoàng. Anh đã từng học Ký-Xướng-Âm với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Nếu nghe nhạc anh, chưa đủ, mà phải nhìn cách viết nhạc của anh mới thấy anh là người có nghề và đam mê âm nhạc đến vô tận.
Trong khuôn nhạc mở đầu, anh cẩn thận ghi “Giọng hát, đàn Dương cầm, Tây Ban Nha, và phân Gamme để người chơi nhạc dựa theo đó mà biến tấu”… (Năm 1972, tủ sách nhạc Kẻ Sĩ, đã in tập nhạc Cung Tiến do Hiện Đại số 44/5 Công Lý Saigon tổng phát hành. Tập nhạc này chọn lọc 9 nhạc phẩm. Con số 9 mang một ý nghĩa đặc biệt, và đăng hình anh qua nét vẽ của họa sĩ Duy Thanh).
Vậy mà Cung Tiến không nhận mình là nhạc sĩ, chỉ viết nhạc như một thú tiêu khiển, mặc dù anh viết được 17 bài hát mà bài nào cũng đáp ứng được nhu cầu của giới thưởng thức có trình độ hiểu biết âm nhạc cao. Anh chẳng quan tâm đến tác quyền, tên tuổi, chỉ nhận mình là nghiệp dư, đây có lẽ là đức tính khiêm nhường “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam, vì có rất nhiều người viết nhạc tự phong cho mình là nhạc sĩ, nhưng chỉ viết được một vài bản nhạc hát và nghe một lần rồi bài hát cảm thấy lạc lõng, cô đơn… rồi tự động biến mất, không để lại dấu vết!
Những nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc có thể đánh giá nhạc sĩ Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương… Nhưng ở Cung Tiến, nhạc anh khó mà đánh giá, xếp hạng, cân đo đong đếm được?
Theo các tài liệu, thông tin, và những bài viết ngắn rải rác trên mạng… thì ca khúc THU VÀNG và HOÀI CẢM được Cung Tiến sáng tác năm 1953, lúc đó anh mới 15 tuổi! Nếu đúng như vậy, thì Cung Tiến được xếp vào thần đồng âm nhạc Việt Nam mà hơn nửa thế kỷ qua giới nhạc sĩ đã quên anh?
Cung Tiến còn là một bậc thầy phổ thơ. Những bài thơ vượt thời gian của Thanh Tâm Tuyền (Đêm), Quang Dũng (Đôi bờ), Thôi Hiệu, (Vũ Hoàng Chương dịch Hoàng Hạc Lâu), Vũ Đình Tiên (Mai chị về, còn có tên là Kẻ ở), Xuân Diệu (Nguyệt Cầm), Trần Dạ Từ (Thuở làm thơ yêu em), Vết chim bay (Phạm Thiên Thư)…, đã làm cho những bài thơ ấy thăng hoa và người nghe cảm thấy lòng mình an bình mặc dù đất nước đang trong thời Chiến tranh.
Nhạc Cung Tiến khó nghe đối với những cái tai “bình dân học vụ”, khó hát với những ca sĩ “múa hay hơn hát”. Nhưng nhạc anh là những con suối trong xanh, mát dịu, luồn qua lau lách chảy mãi không bến bờ, ca từ sang trọng, nhưng không làm dáng, triết lý sáo rỗng, những nốt nhạc không chạy theo lối mòn… bắt người nghe phải động não suy tư mới thấm thía trọn vẹn, mới thấy nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Cảm nhận những ca khúc của Cung Tiến không phải “Đốt lò hương cũ”, mà là sự nhắc nhớ, tìm về, trong tình hình nhạc Việt Nam “Que sera sera”?
Ngoài thơ phổ nhạc, đây là ba tác phẩm thuộc hàng hiếm của âm nhạc Việt Nam, do anh viết nhạc và lời: HƯƠNG XƯA, HOÀI CẢM, THU VÀNG. Những nhạc phẩm này, thật khó xếp hạng cùng những ca khúc nhạc Việt - dù khó tính, hay đứng ở góc độ nào để bình phẩm - thì đây vẫn là đỉnh cao của nghệ thuật mà không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp nào cũng viết được?
Nhạc phẩm THU VÀNG nhịp 6/8 với những nốt Đô, Fa, Sol Dièse (thăng) Gamme La Trưởng, mở đầu:
“… Chiều hôm qua lang thang trên đường
Hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương
Chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
Có mùa Thu về tơ vàng vương vương
Một mình đi lang thang trên đường
Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng
Lòng xa xôi và sầu mênh mông
Có nghe lá vàng não nề rơi không?...”
Sự lặp lại “chiều hôm qua” và “bâng khuâng”, là chủ đích của tác giả, mà không có sự thừa thãi nào ở đây, để sau cùng anh viết một câu kết:
“… Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu vàng bao nhiêu là hương…”
Nhạc sĩ Cung Tiến sử dụng “chiều hôm qua” và “chiều hôm nay”, chỉ có mình anh “lang thang trên đường” là một thời gian gần và xa, có thể xác định hay không xác định cũng được, nghĩa là anh đem đến cho người nghe rất xa nỗi nhớ và rất gần nỗi buồn trong cuộc đời.
Trong nhạc phẩm HOÀI CẢM, Cung Tiến viết nhịp ¾, Gamme Đô Thứ, La, Si, Mi Bémol (giảm). Trong Andantino xa vắng, chậm, âm thầm… Đây là tác phẩm… hoài cảm, anh viết tặng Đỗ Đình Tuân và đầu bản nhạc anh đề hai câu thơ của Xuân Diệu:
“Anh một mình nghe tất cả buổi chiều.
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh”.
Hoàn cảnh ra đời nhạc phẩm này cũng vào buổi chiều mùa Thu “mơ hồ nghe lá thu mưa” và “buổi chiều chợt nhớ cố nhân. Sương buồn lắng qua hoàng hôn”:
“… Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
Quạnh hiu về thấm không gian
Âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều ngồi nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn…”
Nghe HOÀI CẢM, người nghe như quặn lòng, thổn thức, buộc vào mình một nỗi đau, nếu chẳng may trong cuộc đời đánh mất một người thân yêu, để rồi:
“… Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…
Cố nhân xa rồi có ai về lối xưa?...”
Những ca khúc được viết từ năm 1938 còn ảnh hưởng nhạc Tây, những năm sau này, các nhạc sĩ tìm cách thoát Tây, viết nhạc Ta. Theo lời nhạc sĩ Lê Thương, trong giai đoạn này, có không ít nhạc sĩ “tai bay vạ gió” vì những bài hát trữ tình lãng mạn còn có mùi “tiểu tư sản”!
Từ năm 1953, Cung Tiến nổi lên một ngôi sao sáng qua nhạc phẩm THU VÀNG và HOÀI CẢM. Nhưng trong toàn bộ tác phẩm của anh, có lẽ ca khúc HƯƠNG XƯA là tác phẩm dẫn đầu. HƯƠNG XƯA đầu bản nhạc anh đề tặng Khuất Duy Trác và trong Andante sostenuto, Cung Tiến làm người nghe lắng động để nghe anh kêu thầm… “Người ơi” trong nốt Đồ, La, dẫn vào cung bậc của HƯƠNG XƯA (*):
“… Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa/ Người ơi đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò/ Còn đó tiếng tre êm ru/ còn đó bóng đa hẹn hò/ còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu/ Người ơi còn nhớ mãi trưa nào, thời nào vàng bướm bên ao/ Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao/ Còn đó tiếng khung quay tơ/ Còn đó tiếng diều vật vờ/ còn đó… nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa/… Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi buồn sớm đưa chân cuộc đời/ Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa, dù có bao giờ lắng men đợi chờ/ Tình Nhị Hồ vẫm yêu âm xưa/ Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô, nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ, vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó/ Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc mơ ai, dù đã quên lời hẹn hò/ Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha, chờ đến bao giờ tái sinh cho người? Đời lập từ những đêm hoang sơ/ Thanh bình như bóng tre đơn sơ nay đời tan biến trong hư vô, chết đầy từng mồ oán thù, máu xương tơi bời nhiều mùa thu…/ Người ơi, chiều nao có nắng vàng hiềnv hòa sưởi ấm nơi nơi/ Người ơi chiều nao có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi…/ Tình có ghi lên đôi môi, sầu có phai nhòa cuộc đời/ Người vẫn thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi/ Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”
Đó là khúc hoài niệm, tìm nhớ về quá khứ của một thời hoàng kim để khơi dậy một Hương xưa trong lớp bụi mờ của thời gian.
Làm sao nói hết những dòng nhạc Cung Tiến…, một HƯƠNG XƯA cũng đủ để nói lên rằng, nhạc Cung Tiến là những Gam màu tê tái!
Ôi bây, giờ tìm một bài hát (dù chỉ một bài thôi) giống như những bài hát của Cung Tiến, như mò kim đáy biển. Hết rồi, không còn nữa rồi, thời nghe nhạc bác học, kinh điển, lãng mạn… đã qua!
TRẦN HỮU NGƯ
(*) Tôi trích nguyên ca khúc Hương Xưa đề thấy rằng “không có từ cổ”, “triết lý” mà chỉ có điển tích: Nhị Hồ, Cung Nguyệt Cầm, thời Hoàng Kim, nàng Quỳnh Như…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét