CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN BLOG NHÃ MY. CHÚC CÁC BẠN THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

THƯƠNG VỀ XỨ NẪU , THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG - THƠ NGUYỄN KHÔI


  



            THƯƠNG VỀ XỨ NẪU
    (Tặng : Phạm Ngọc Hiền)
               ———
Thương nhớ lắm vọng trông về Xứ Nẫu
“Con mắt Phú Yên” thắc thỏm trong tim (1)
Hồn lộng gió Cù Mông, Đèo Cả
Nghe bước chân thi thút mé Đồi Thơm.
.
Chóp Chài đây, chiều nào ai đứng ngóng
Núi Mẹ Bồng Con lặng đợi bên trời
Lên Tháp Nhạn ngắm sông Ba rờn sóng
Cầu Đà Rằng từng nhịp võng lòng tôi.
.
Về Xứ Nẫu bừng coi đêm hát hội
Nhớ ai xa ca điệu Bài Chòi
Lòng chằn chặn hằn trên ghềnh Đá Đĩa
Vịnh Xuân Đài vàng tỏa ánh trăng soi.
.
Xa Xứ Nẫu để nhớ về Xứ Nẫu
Cứ như mơ ai đó nói thầm thì
Đành bấm “chuột ” vào Google tìm kiếm
Chiếc hôn nồng hư ảo ở đầu kia.


                                             NGUYỄN KHÔI 


(1) tên riêng của tỉnh Phú Yên , nơi ngày trước Tản Đà đi qua …có câu thơ bất hủ :
 “Đa tình con mắt Phú Yên”…để cho đến bây giờ Người Đời còn tốn nhiều bút mực tranh cãi mà hình như vẫn chưa có hồi kết ?


 

 THƠ VỀ LÀNG ĐÌNH BẢNG


Đến cây số 15, bên phải, đường số 1

Là làng ta Đình Bảng đã ngàn năm

Hương Cổ Pháp, nền đất quê Diên Uẩn

Sông Tiêu Tương trước mặt chảy lặng thầm


Xưa Vua Lý đỗ thuyền bên rừng Báng

Cả dân làng ra đón trống chiêng khua

Trai gái làng tưng bừng quần áo đỏ

Khiêng kiệu vàng đi rước nhà Vua.


Đức Vua thích cùng dân làng tản bộ

Từ xóm Đình thẳng tới Thịnh Lang

Ra chùa Dận thắp hương dâng Quốc Mẫu

Vào Sơn Lăng tảo mộ viếng Thượng Hoàng.


Nắng tháng ba chói chang hoa gạo đỏ

Bãi đền Đô hội vật trổ thi tài

Đức Vua khoái khen trai làng thượng võ

Thưởng cho "đô" giải nhất một trâu cày.


Đêm tháng ba ánh trăng vàng sánh tỏ

Hội hoa đăng ở ao rối, ao đình

Dân Niềm Xá (1) về hát thi Quan họ

Trai gái sang từ Phù Chẩn, Phù Ninh


Cứ như thế khi hết ngày hát hội

Về Thăng Long Vua Lý khai trào

Dân làng lại vào tầm tang, nhuộm ngả

Thợ sơn mài tấp nập lối cầu ao.


Cứ như thế... 30 đời con cháu 

Lý Hoàng Thân từ Hàn Quốc lại về

Dù tản mác khắp chân trời góc bể

Còn tấc lòng vẫn gửi gắm nơi quê


Vượt dâu bể... đền Đô hương khói toả

Vui hôm nay cả Nam Bắc xum vầy

Rất tự hào là trai Đình Bảng

Cá Vậy, Trầm (2) vụt lớn hoá Rồng Bay.


NGUYỄN KHÔI

 

(1) Làng gốc Quan họ ở Bắc Ninh.

(2) Vậy, Trầm: tên 2 cái đầm lớn của làng Đình Bảng.

        

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

ÁO GIÓ - THƠ LÊ KIM THƯỢNG


 


ÁO GIÓ

 1.

 Em xa từ ấy đến giờ

Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây

Nhớ tà áo gió bay bay

Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…

Bàn tay mười ngón búp măng

Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời

Tóc thề che nửa lưng người

Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong

Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong

Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…

Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn

Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm

Ai làm nhung nhớ nhiều thêm

Ai làm ngây ngất con tim chung tình

Thương yêu cho hết lòng mình

Qua bao năm tháng chuyện tình không phai… 

2.

Bây giờ nhớ lại ai ơi

Tình đầu ngày ấy, một thời chia xa

Tình đau như cắt thịt da

Ai chờ, ai đợi tình qua tít mù

Tôi đi về phía mây mù

Hình như trời héo, mua thu ướp nồng

Tôi đi tìm nhớ tìm mong

Tôi đi nhặt nắng đem hong tơ hồng…

Cà phê giọt đắng chát lòng

Hương cô đơn cứ lòng vòng quanh ta

Bây giờ hai đứa cách xa

Nghìn trùng vạn lý phôi pha cũng đành

Xứ xa em có an lành

Có mong có nhớ như anh bên này?

Dẫu người góc biển chân mây

Trái tim vẫn cũ, vẫn đầy yêu thương…

          

            Nha Trang, tháng 02. 2026

                  LÊ  KIM  THƯỢNG


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

HỒN VIỆT TRONG ''CỔ PHÁP CỐ SỰ '' CỦA NGUYỄN KHÔI - PHẠM NGỌC HIỀN

 


Hồn Việt trong "CỔ PHÁP CỐ SỰ" của NGUYỄN KHÔI
16:53 | 06/02/2009
PHẠM NGỌC HIỀN
Chưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).

Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu có tâm huyết đang từng ngày, từng giờ miệt mài sưu tầm, khảo cứu những giá trị văn hoá cổ truyền của cả dân tộc hay từng vùng, miền. Thậm chí, có người chỉ chú trọng đến phong tục, tập quán của một làng mà in thành một tập khảo cứu có giá trị hẳn hoi. Như làng Đình Bảng trong "Cổ pháp cố sự" của Nguyễn Khôi.

Có lẽ Đình Bảng là cái tên làng nổi danh bậc nhất trong các làng xã ở Việt . Nó đã được ghi vào chính sử Việt từ hơn 1000 năm trước. "Tiểu Thăng Long thành" này nằm trên mảnh đất Kinh Bắc vốn đã "tích tụ bao đời những tinh anh nhiều mặt của dân tộc". Vùng đất Bắc Ninh còn lưu giữ khá nhiều những dấu tích văn hoá cổ truyền, trong đó có thể coi Đình Bảng là một làng quê điển hình của Việt . Nhưng Nguyễn Khôi không chỉ vì chú ý đến cái tính điển hình đó mà ông viết về vùng quê này xuất phát từ sự thôi thúc của một con tim nặng nợ với quê hương. Sau mấy mươi năm đi đây đi đó khắp nơi, lên Tây Bắc, rồi từng bước chân đến trên 20 nước khác nhau, cuối cùng, chàng trai Đình Bảng này dừng chân ở góc Thành Nam (Thăng Long) để chiêm nghiệm về nét đẹp của "ao ta". Nguyễn khôi đóng vai trò như một người con của làng nay đã lớn tuổi, kể lại chuyện xưa cho lớp trẻ của làng và những ai muốn làm bạn với làng. Bởi vậy, ta thấy ông lặp lại rất nhiều những từ: làng Đình Bảng ta, dân làng mình, làng nhà, làng tôi... rồi rộng hơn là: thành Thăng Long ta, người Việt ta... Để tăng tính chân thật và thân mật, ta cũng thường nghe tác giả nói: thầy tôi kể rằng, mẹ tôi bảo, dân làng kể rằng, các cụ xưa đã răn dạy... Và Nguyễn Khôi đã dẫn dắt bạn đọc làm một chuyến du lịch kỳ thú đi lui về hơn 1000 năm trước. Từ cái thời Cao Biền biến hạt đậu thành binh mã đến sự kiện Lý Công Uẩn sinh ra và sự tồn tại 216 năm của nhà Lý. Cuối cùng là cái thời mà "Chủ tịch xã Đình Bảng hôm nay chỉ đạo công việc bằng máy tính điện tử nối mạng tới 15 thôn và các công ty, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học... ở Khu công nghiêp Đình Bảng, Khu văn hoá du lịch đền Đô...".

Xét về không gian, làng Đình Bảng chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ Việt . Nhưng từ đó, tác giả triển khai cho ta thấy toàn bộ diện mạo nền văn hoá dân tộc. Có thể nói:  "Cổ Pháp cố sự" là bộ bách khoa toàn thư về vùng quê Việt . Ngoài những trang khảo cứu tỉ mỉ về địa lý, lịch sử của vùng đất vốn được coi là "huyệt đất quý, phát tích đế vương" này, tác giả đã dành 45 chương mục để nói về văn hoá truyền thống. Trong đó, có những cái được coi là "quốc tuý" như đình Đình Bảng, dân ca quan họ, các trò chơi dân gian, lễ nghi đình đám, trang phục ("Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng" - HC). Tác giả miêu tả tỉ mỉ những món ăn "thể hiện một trình độ đời sống cao, một nền "văn hoá ẩm thực" "tầm cỡ quốc tế" như món giò chả... đến những món đậm mùi dân dã như "cỗ thịt chuột"...”. Bên cạnh tự hào về những mặt mạnh của người Đình Bảng như học tài, buôn giỏi... tác giả cũng mạnh dạn nói đến những mặt chưa tốt của một số nông dân như cờ bạc, trộm cắp, tính cục bộ địa phương... Tất cả những yếu tố văn hoá kể trên đều được thể hiện thông qua những câu chuyện nhỏ có liên quan tới gia đình tác giả. Mà gia đình là một xã hội thu nhỏ. Trong đó, "mỗi số phận con người đều chứa đựng một phần lịch sử", câu nói ấy của Evtusenko hẳn rất có lý.

Thực ra, nếu tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả các hiện tượng bề ngoài thì có thể tác phẩm này cũng na ná như nhiều tập sách khác viết về Bắc Ninh. Điều đáng ghi nhận là ở chỗ lý giải của tác giả, ông đã phát hiện ra nhiều quy luật và bản chất đời sống mà ít người nhận thấy. Chẳng hạn, từ câu chuyện Nguyên phi Ỷ Lan, ông có cái nhìn so sánh với nhiều nước khác: "Từ cô Tấm trở thành phi tần... ở Việt Nam ta xưa nay không hiếm, khác với nhiều nước trên thế giới (giới quý tộc thường không lấy thứ dân), tính dân tộc, tính bình dân ở người Việt Nam quả là một đặc thù". Người ta thường nghe trai Đình Bảng rất tự hào về mình (điều này cũng được phản ảnh trong tập thơ "Trai Đình Bảng" của Nguyễn Khôi). Tác giả lý giải như sau: bởi Trai Đình Bảng được làng cấp cho nhiều ruộng, "Do vậy, con trai Đình Bảng có giá trị là thế !".Nhưng kèm theo đó là một nghịch lý: Những đấng mày râu ấy lại ít thạo việc cày bừa mà chỉ "ở nhà ngồi trông coi nhà cửa và dạy dỗ con cái" cho vợ đi buôn. Đình Bảng "là làng buôn mà lạ thay làng lại không có chợ...". Đó cũng là nét riêng độc đáo của làng quê này.

"Cổ Pháp cố sự" còn hấp dẫn bạn đọc ở lối kể chuyện bằng một thứ văn phong thập cẩm do kỹ sư kiêm nhà thơ Nguyễn Khôi gia công chế biến để món ăn tinh thần khỏi bị đơn điệu. Có khi ta gặp một loại văn phong khoa học hiện đại miêu tả tỉ mỉ chính xác đến từng con số. Có khi là giọng văn đĩnh đạc, cổ kính, chứng tỏ tác giả là người rất am tường chữ Hán. Bên cạnh loại ngôn ngữ gọt dũa, trang trọng là thứ ngôn ngữ đời thường, dân dã ngay trong giọng kể tác giả: ấy thôi, thôi thì, nữa kia, vậy chăng, biết chừng nào, là vậy, là thế, chao ôi, lạ thay... Để thấy được bản sắc ngôn ngữ của Đình Bảng, tác giả làm một bản liệt kê những "lời ăn tiếng nói" của vùng này so với cả nước. "Chao ôi, còn đình đền, còn tiếng nói, còn phong tục có bản sắc riêng... âu cũng là một động lực cho người Đình Bảng ta luôn vượt ngang tầm thời đại là thế". Người đọc cũng khó quên những trang văn thấm đẫm chất thơ: "Nơi ấy có những con cò lặn lội, những cánh cò bồng bế nhau đi; những đàn chim ngói chở heo may về, những đám lục bình trôi nổi với những chùm hoa tím ngát. Sông là lòng quê, tình quê chở đầy ắp hồn làng... "Có lẽ hiếm thấy có tập khảo cứu nào mà đưa thơ vào nhiều như tập này. Trong  sốá đó, ta bắt gặp nhiều bài thơ của Nguyễn Khôi viết về làng mình, như bài "Ao làng" đã được nhiều người biết đến: "Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang/ Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng/ Cái đêm hè ấy ai ra tắm/ Để cả bầu trời phải tắt trăng". Đọc văn Nguyễn Khôi, ta có cảm tưởng như nhà thơ đang trên đường đi tìm đến dãy Thi Sơn nhưng nửa chừng thì mỏi chân nên ghé lại Rừng Văn và kết duyên cùng Khảo Cứu, nhưng trong lòng vẫn chưa dứt tơ tưởng Nàng Thơ.

Hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi: nên xếp "Cổ Pháp cố sự" vào thể loại nào? Biên khảo, truyện phong tục, hồi ký hay tuỳ bút?... Xin hãy nghe theo lời của nhà mỹ học Đức Letxing: Việc phân loại tác phẩm chỉ có trong các sách giáo khoa. Còn trong thực tế, có nhiều nhà thơ kết hợp nhiều thể loại khác nhau để nhằm mục đích cao hơn, "Chúng ta chỉ nên hỏi liệu cái mục đích cao hơn đó có đạt được hay không mà thôi". Mục đích cao nhất của Nguyễn Khôi là góp phần bảo lưu nền văn hoá dân tộc. Mục tiêu đó cũng đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm của ông như: "Bắc Ninh thi thoại", "Xứ Thái mù sương", "Tiễn dặn người yêu" (biên dịch) v.v... (trong số đó có những tác phẩm đaî được giới thiệu ở nước ngoài qua mạng Internet). Nguyễn Khôi viết "Cổ Pháp cố sự" không chỉ nói riêng cho một làng Đình Bảng, không chỉ dành cho "người đương thời" mà xa hơn nữa còn dành cho các thế hệ mai sau ở khắp mọi nơi



P.N.H

(nguồn: TCSH số 192 - 02 - 2005)

 

KHÔNG PHẢI CỬA THIÊN ĐƯỜNG - TỪ KẾ TƯỜNG




KHÔNG PHẢI CỬA THIÊN ĐƯỜNG
Truyện ngắn
Quân vẫn thường ngồi bệt ở vỉa hè chơi vài ván cờ tướng với mấy ông anh trong đội Xe ôm Tự quản. Trong đội Quân là người nhỏ tuổi nhất, hiền lành, tốt bụng, non tuổi nghề và chiếc Honda kiếm “tiền học phí” của Quân cũng thuộc vào loại tàn nhất. Mỗi lần tới tài, có khách, Quân đạp máy xe là mọi người xung quanh cười chế dĩu: Cái này là nhà máy xay lúa chứ không phải xe. Quân lúng túng, xấu hỗ như muốn độn thổ, nhưng muốn đổi chiếc xe mới hơn, loại đề chứ không phải đạp, chắc Quân phải dành dụm vài năm nữa. Bởi lẽ, tiền phòng trọ, tiền học phí, ăn uống, sách vở đã chiếm tới hai phần ba thu nhập từ nghề xe ôm của Quân sau một ngày vắt óc ở giảng đường. Quân là sinh viên ở tỉnh lên thành phố trọ học, đang năm thứ ba đại học Y Dược.
“Chiếu”. Quân vừa đặt con ngựa bức tử, buộc con tướng của ông anh trong đội không thể cục cựa để chiếu bí thì chuyến xe buýt 6 giờ chiều vừa tắp vào bến. Quân rời bàn cờ, đứng lên chạy tới cửa trước chiếc búy để đón khác. Trên xe bước xuống là một cô gái trẻ, khỏang 18 tuổi, cao ráo, mặt trái xoan, mắt to đen, tóc dài, nước da trắng đúng nghĩa của gái miệt vườn. Cô gái mặc bộ jeans xanh, áo thun ngắn tay màu đen càng làm tăng thêm nước da trắng hồng. Cô gái bước xuống xe, đôi mắt ngơ ngác nhìn quanh, chiếc túi xách cầm hờ hững trong tay. Quân mời chào:
- Em về đâu, anh chở cho. Cẩn thận chiếc túi xách, hớ hênh là bị giật đó. Kẻ xấu thường trà trộn trong đám đông khi xe buýt vào bến.
Cô gái thu chiếc giỏ xách, ôm chặt trong tay. Quân đoán chiếc giỏ xách chắc không có tài sản gì quý giá ngoài mấy bộ quần áo và vật dụng cá nhân của cô gái.
- Anh có đi về ngã tư Phú Nhuận không?
- Đi chứ.
- Bao nhiêu?
- 40.000 đồng.
- Sao mắc vậy?
- Không mắc đâu em, biết em ở tỉnh lên nên không nói thách. Đây là đội Xe ôm Tự quản, chỗ khác họ nói ít nhất cũng 60.000 đồng.
Cô gái mím môi, nhìn Quân dò xét. Gương mặt trắng trẻo, hiền lành, bộ đồng phục xe ôm màu xanh trên vai áo cón in 4 chữ cái màu trắng XOTQ có đã tạo cho cô gái sự yên tâm.
- Anh chở em tới địa chỉ này.
Cô gái chìa ra mảnh giấy, ghi nguệch ngoạc mấy dòng chữ to bằng bút bi: Nhà hàng karaoke Đông Châu, đường…Quân trả mảnh giấy, nhìn sững cô gái:
- Em biết chỗ này là chỗ gì không?
- Nhà hàng ăn uống, có hát karaoke. Đang tuyển tiếp viên phục vụ.
- Sao em biết?
- Một chị bạn dưới quê làm quản lý bảo em lên đây để đi làm. Mẹ em xin chị đó, nhờ bà con xa nên em mới được nhận, hôm nay em lên đi làm.
- Em biết đây là nhà hàng bia ôm không?
- Bia ôm là gì?
- Đàn ông vào trong đó uống bia, hát karaoke. Nếu em làm tiếp viên là phải ngồi với khách, tiếp bia và để cho khách…ôm để nhận tiền boa.
Cô gái ngỡ ngàng:
- Sao chị ấy nói là nhà hàng ăn uống bình thường?
- Bình thường…con mắt em đó. Em làm tiếp viên là phải chiều khách, mấy ông uống bia xỉn, hát karaoke…bằng tay. Em biết chứ?
- Hồi nào tới giờ em có làm tiếp viên đâu mà biết. Nhưng thôi, dù sao em cũng tới gặp chị đó, làm được hay không thử mới biết. Không gặp chị đó mẹ em đánh chết, mẹ em bắt em nghỉ học để đi làm kiếm tiền về trả nợ, xây nhà, giống như mấy chị ở xóm. Làm nhà hàng kiếm tiền nhiều lắm.
Quân thờ dài:
- Em không nên thử, có những việc không thể thử được, như nghề làm tiếp viên nhà hàng bia ôm.
- Nhưng em không thể trở về mà không gặp chị ấy. Chị ấy bảo 3-4 giờ là nhà hàng hoạt động, chị ấy chờ em. Do không biết đường em đi lạc tuyến xe buýt nên giờ tới trễ. Anh chở em tới đó giùm, nhanh lên.
- Nhưng…
- Nếu anh không đi em sẽ nhờ mấy chú kia…
Sau khi dừng xe trước cửa nhà hàng Đông Châu cho cô gái xuống, Quân chỉ lấy 30.000 đồng tiền xe, vừa đủ đổ một lít xăng rồi chỉ kịp đưa cái cart nghề nghiệp cho cô gái và dặn:
- Có gì cần giúp đỡ em cứ gọi di động cho anh. Tên và số điện thoại của anh có in trong cart.
***
Khoảng 11 giờ đêm, trong lúc Quân đang học bài thì điện thoại của anh có người gọi tới. Một số máy lạ, Quân bấm nghe, từ đâu dây giọng một cô gái hấp tấp, vẻ cầu cứu:
- Anh xe ôm ơi, anh Quân phải không, tới chỗ hồi chiều chở em ra bến xe miền Tây giùm. Anh đến ngay nghe, đậu xa xa cửa nhà hàng rồi em ra, em tên Lan Anh, cô gái hồi chiều…
Điện thoại cúp không để cho Quân kịp nói câu nào. Quân vội vã dẫn xe ra cửa, đạp máy, phóng nhanh tới nhà hàng Đông Châu. Anh dừng xe ngay góc ngã ba, gần nhà hàng hồi hộp đợi. Khoảng 15 phút sau Lan Anh loáng thoáng hiện ra trong ánh đèn đường và đi tới chỗ Quân. Cô có vẻ đã say, giọng luýnh quýnh:
- May quá, anh đã tới. Em trốn chị quản lý nói là đi tắm cho bớt xỉn rồi theo chị ấy về nhà. Nhưng em trốn cửa sau ra đây. Anh chở em ra bến xe miền Tây để em về quê. Em không thể làm tiếp viên nhà hàng đó đâu.
- Giờ này khuya rồi, biết xe còn chạy không?
- Xe chạy sáng đêm mà anh.
- Nhưng em đang say.
- Không sao đâu anh.
Quân chở Lan Anh ra tới bến xe đã nửa đêm. Bến xe vắng khách. Chuyến sớm nhất cũng xuất bến lúc 3 giờ sáng. Sau khi vào quầy mua cho Lan Anh chiếc vé về Bến Tre, Quân đề nghị hai người đi ăn khuya, uống cà phê lề đường trước cổng bến xe chờ giờ xe chạy.
Lan Anh đã bớt say, giọng bớt luýnh quýnh, nhưng đôi mắt đẹp của cô vần còn long lanh, ửng đỏ. Lan Anh nhìn Quân nói:
- Cám ơn anh đã giúp đỡ em trong lúc tứ cố vô thân. Anh là người tốt. Anh là sinh viên chạy xe ôm để kiếm thêm tiền học à?
- Còn em học lớp mấy rồi sao nghỉ học?
- Em học hết lớp 11, mẹ em bảo con gái không nên học nhiều mà cần đi làm để kiếm tiền giúp cha mẹ, trang trải nợ nần cho gia đình, xây nhà bào hiếu cho cha mẹ giống như mấy chị ở xóm em cũng nghỉ học sớm để lân thành phố đi làm. Em không nghĩ làm tiếp viên lại ghê như vậy?
- Ghê là sao?-Quân cười cười.
- Mấy ông đàn ông uống bia xỉn kéo áo em xuống…
- Anh đã nói mà em không tin.
- Em đúng là dại dột.
- Nếu em bỏ làm tiếp viên về quê sẽ ăn nói sao với mẹ?
- Em nói chỗ đó rất bậy bạ không phải chỗ đàng hoàng. Nếu mẹ em cứ áp lực buộc em phải làm tiếp viên để kiếm tiền thì em bỏ nhà lên thành phố tìm việc làm lương thiện hơn, như công nhân mấy khu công nghiệp chẳng hạn.
- Tốt nhất là em cố gắng học nữa, trường hợp phải đi làm công nhân cũng phải tranh thủ học thêm. Em cố gắng tốt nghiệp lớp 12 nếu vượt qua đại học càng tốt. Áp lực kiếm tiền của gia đình quả nặng nề, nhưng không vì áp lực đó mà sa chân lỡ bước.
- Anh Quân quả là người tốt. Nếu không gặp anh chắc em…cám ơn anh rất nhiều.
- Không cần phải nói cám ơn anh đâu. Em ăn đi rồi uống cà phê cho tỉnh táo đợi giờ lên xe. Về nhà rồi, có gì cần cứ gọi cho anh. Em vẫn giữ tấm cart của anh chứ?
- Em vẫn giữ đây.
Rồi cũng tới giờ chia tay. Lan Anh lên xe. Quân chờ ở cổng để nhìn thấy Lan An vẫy tay tạm biệt anh và cười, nụ cười trong sáng, yên bình của cô gái vừa thoát nạn. Quân cũng thật vui chạy xe trên con đường thưa người để trở về nhà trọ. Một ngày mới lại bắt đầu.


TỪ KẾ TƯỜNG


Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

DANH HIỆU THI THIÊN TỬ. - ĐỖ CHIÊU ĐỨC


 

 Thi Thiên Tử : Vương Xương Linh


        Danh Hiệu Thi Nhân
                                 THI THIÊN TỬ
                                                                      
          Những người nghiên cứu và say mê thơ Đường, thường hay kháo nhau về những giai thoại xoay quanh các thi nhân của thời đại nầy. Trong số các giai thoại đó, chuyện thường được nhắc đến nhiều nhất là danh xưng của các thi nhân, như  Thi Tiên là Lý Bạch, Thi Thánh là Đỗ Phủ và Vương Duy là Thi Phật, còn một danh hiệu cao quý thường gây tranh cải là Thi Thiên Tử. Vậy, ai là Thi Thiên Tử của thời đại hoàng kim của thi ca nầy ?. Chính là Vương Xương Linh đó, có giai thoại cho rằng Thi Thiên Tử là Vương Chi Hoán, vì trong một lần cá cược, Vương Xương Linh bị thua, cho nên mới nhường chức Thi Thiên Tử lại cho Vương Chi Hoán, nhưng đây chỉ là chuyện các thi sĩ vui đùa với nhau mà thôi, xin mời nghe giai thoại mà dân gian thường truyền khẩu sau đây.....
 
          Trong thời Khai Nguyên đời Đường (713-741), các thi nhân Vương Xương Linh 王昌齡, Cao Thích 高適, Vương Chi Hoán 王之渙 đồng nổi danh ngang nhau. Lúc bấy giờ tuy đời sống, hoàn cảnh của mỗi người mỗi khác, nhưng họ vẫn thường hay đi chơi chung với nhau luôn.
          Một ngày kia, trời lạnh, tuyết rơi nhẹ, ba vị thi nhân cùng đến uống rượu tại Kỳ đình. Bỗng nhiên có các Linh quan (con hát) ở Lê viên, độ hơn mười người, cũng lên lầu dự tiệc. Nhân đó, ba vị thi nhân đồng hẹn nhau tránh khỏi bàn ngồi, đến bên lò sưởi trong góc để nghe ngóng.
         Trong chốc lát, có bốn cô ca kỹ lần lượt kéo đến. Các cô đều rất xa hoa diễm lệ, yêu kiều khả ái. Tất cả mọi người cùng tấu nhạc và bắt đầu hát, các bài hát đều là những tác phẩm nổi danh đương thời. 
          Vương Xương Linh cùng các bạn ước hẹn với nhau rằng: "Bọn chúng ta hiện nay đều là những người có tiếng trên thi đàn, nhưng việc hơn kém chưa định được. Nay cứ lặng nghe các linh quan ngâm thơ và hát những bài thơ  thuộc Nhạc Phủ, xem thơ của ai được ngâm và hát nhiều nhất thì người ấy sẽ là Thi Thiên Tử nhé ! ". 

          Một lúc sau, các linh quan cử nhạc, một cô đào gỏ nhịp hát lên rằng:
 
         Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô          寒雨連江夜入吴,
         Bình minh tống khách Sở sơn cô        平明送客楚山孤.
         Lạc Dương thân hữu như tương vấn,  洛楊親友如相問,
         Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.      一片冰心在玉壶 !

  
         Ban đêm đi thuyền vào đất Ngô trong khi mưa lạnh giăng giăng ngang sông. Sáng sớm mai tiễn khách chỉ có mỗi ngọn núi Sở cô quạnh. Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm, (thì xin anh đáp rằng) Lòng tôi như một mảnh băng trong trắng ở trong bình ngọc vậy.
        Đó chính là bài "Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm 芙蓉樓送辛漸" của Vương Xương Linh, nên khi ...
        Nghe xong, Vương Xương Linh mỉm cười, đưa tay lên vẽ trên tường một dấu hiệu, nói: "Nhất tuyệt cú!". Lại một cô khác ngâm rằng:
 
             Khai khiếp lệ triêm ức          開箧淚沾臆,
             Kiến quân tiền nhật thư       見君前日書.
             Dạ đài hà tịch mịch             夜台何寂寞,
             Do thị Tử Vân cư.                猶似子雲居.



                                        Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ

          Mở hộp ra mà nước mắt ướt đầm trên ngực, vì nhìn thấy bức thư của chàng ngày trước. Chốn dạ đài hiu quạnh biết bao nhiêu, nhưng nơi đó vẫn là chỗ ở của chàng Tử Vân (tức Dương Hùng ) đã mất . 

          Đó chính là bài " Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ 哭單父樑九少府" của Cao Thích. Nên khi nghe xong...
          Cao Thích đưa tay lên vách vẽ một vòng, nói: "Nhất tuyệt cú!" 

          Tiếp đến một cô khác cũng gõ nhịp ngâm rằng:
 
        Phụng trửu bình minh kim điện khai    奉帚平明金殿開,
        Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi     暫将團扇共徘徊.
        Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc          玉颜不及寒鸦色,
        Do đới Chiêu Dương nhật ảnh lai.        犹带昭陽日影來 !

        
          Buổi sáng cầm chổi quét khi cửa điện vàng vừa mở ra, tay mân mê cây quạt mà trong dạ lại bồi hồi. Mặt ngọc còn không bằng cả nhan sắc của con quạ lạnh, (vì quạ) còn được hưởng ánh nắng mặt trời ở điện Chiêu Dương mà bay đến đây !

          Đó là bài " Trường Tín Thu Từ " cũng của Vương Xương Linh ...
          Nghe xong, Vương Xương Linh lại đưa tay lên vẽ lên tường, nói: "Nhị tuyệt cú!". Lại một cô khác đứng lên gỏ nhịp cất tiếng ngâm :

          千里黃雲白日曛, Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,
          北風吹雁雪紛紛.   Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.
          莫愁前路無知己, Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
          天下誰人不識君。 Thiên hạ hà nhân bất thức quân ?!

          
          Ngàn dặm mây ngã màu vàng che mờ cả mặt nhựt. Gió bấc thổi cho chim nhạn bay về nam và tuyết rơi phơi phới. Thôi bạn hãy lên đường đi đi, đừng buồn là phía trước mặt không có người tri kỷ. Vì trong thiên hạ nầy ai là người không biết đến bạn đâu !?  
          Đó là bài " Biệt Đổng Đại 别董大" của Cao Thích, nên anh ta lại giơ tay lên ra dấu và điểm : " nhị Tuyệt cú !".

          Bốn cô đã ngâm bốn bài, toàn là tác phẩm của Vương Xương Linh và Cao Thích.
          Vương Chi Hoán thẹn quá, nhưng tự nghĩ rằng thơ của mình nổi danh đã lâu, bèn nói với hai người kia rằng: "Bọn này đều là những nhạc quan không theo kịp thời điểm, những bài họ hát đều là ngôn từ quê mùa của vùng Ba Thục. Còn những khúc hát như Dương xuân Bạch tuyết thì bọn phàm phu tục tử này có dám nói đến đâu ?" Bèn chỉ vào một trong những ca kỹ đẹp nhất bọn, nói: "Đến lượt cô này hát, nếu như không phải là thơ của ta, ta nhất định không tranh đua với các anh nữa. Còn nếu như đúng là thơ của ta, thì các anh phải tôn ta làm Thi THIÊN TỬ nhé !". Nói xong cả bọn vui vẻ cười đợi. Phút chốc, đến lượt cô đào đẹp nhất bọn, búi tóc song hoàn, cất tiếng ca réo rắt :
 
            Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian,    黄河逺上白雲間,
            Nhất phiến cô thành vạn nhận san.        一片孤城萬仞山.
            Khương địch hà tu oán dương liễu,         姜笛何須怨楊柳,
            Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.       春風不度玉門関.

                          

          Sông Hoàng Hà chảy từ nơi xa tít trong khoảng mây trắng. Một mảnh thành trơ trọi giữa núi cao muôn nhận (đơn vị đo lường thời xưa, ba thước là một nhận). Sáo Khương đừng thổi bài "Oán dương liễu" nữa, vì gió xuân kia cũng không đưa (tiếng sáo) qua được Ngọc Môn Quan đâu. 
          Đúng là bài "Lương Châu Từ 涼州詞" nổi tiếng của Vương Chi Hoán 王之渙, nên khi cô đào vừa dứt tiếng hát thì ...
           Vương Chi Hoán bèn vỗ tay cả cười nói với hai bạn rằng : "Các anh thấy đấy, ta nói có sai đâu, ta quả là chơn mạng Thi THIÊN TỬ đó nhé !". Cả bọn cùng cả cười chuốc rượu uống mừng. 

                      Inline image

           Các linh quan không rõ đầu đuôi câu chuyện, đều hỏi: "Chẳng hay chư vị vui cười chuyện gì thế?" Vương Xương Linh và các bạn liền thuật rõ mọi việc. Các linh quan đồng thưa rằng: "Bọn tục nhân chúng tôi không nhận ra được những bậc cao nhã, xin được muôn vàn ngưỡng mộ!" Xong tất cả đều ngồi vào bàn tiệc cùng vui vẻ uống say  đến sáng.

           Nhân chuyện nầy, mới có giai thoại cho rằng Vương Chi Hoán cũng là Thi Thiên Tử là vì vậy !.....
 
          Kính mời Quý Vị xem  thêm tài liệu bổ sung sau đây :

          詩天子指诗坛的领袖。 唐 诗人 王昌龄 、 王维 和 李白 都有此誉称。 清 陆凤藻 《小知录•文学》:“ 王昌龄 集, 王维 诗天子, 杜甫 诗宰相。” 清 宋荦 《漫堂说诗》:“大抵各体有‘初’、‘盛’、‘中’、‘晚’之别,而三 唐 七絶,并堪不朽。 太白 、 龙标 ( 王昌龄 )更有‘诗天子’之号。” 郑振铎 《插图本中国文学史》第二五章八:“ 王昌龄 字 少伯 , 京兆 人,与 高适 、 王之涣 齐名,而 昌龄 独有‘诗天子’的称号。”
          Thi Thiên Tử (Vua trong thơ)  chỉ lãnh tụ trên Thi Đàn. Các thi nhân Vương Xương Linh, Vương Duy và Lý Bạch đều có cái danh xưng danh dự nầy. Theo Lục Phụng Tảo đời Thanh " Văn học- Tiểu tri lục " thì : " Theo Vương Xương Linh tập, Vương Duy là Thi Thiên Tử, Đỗ Phủ là Thi Tể Tướng. Trong "Mãn đường thuyết thi" đời Thanh thì : "Đại đễ các thể đều phân biệt SƠ, THỊNH, TRUNG, VÃN, mà tam Đường thất Tuyệt, đều có thể  nói là bất hủ hết được. Thái Bạch, Long Tiêu (Vương Xương Linh) lại có danh hiệu là "Thi Thiên Tử".  Theo điều thứ 25 chương 8 trong "Tháp đồ bổn TRUNG QUỐC VĂN HỌC SỬ" của Trịnh Chấn Đạc viết :"Vương Xương Linh tự Thiếu Bá, người đất Kinh Triệu , nổi danh ngang hàng với Cao Thích, Vương Chi Hoán, nhưng Vương lại có danh xưng độc hữu là "THI THIÊN TỬ".

           
       Sau Đây là Bảng xếp hạng các thi nhân đời Đường mà ta thường thấy :

1.  詩仙/詩俠:李白   Thi Tiên, còn gọi là Thi Hiệp : Lý Bạch.
2.  詩聖/詩史:杜甫   Thi Thánh hay Thi Sử : Đỗ Phủ. 
3.  詩豪:劉禹錫       Thi Hào : Lưu Vũ Tích.
4.  詩魔:白居易       Thi Ma : Bạch Cư Dị. 
5.  詩鬼/鬼才:李賀   Thi Quỷ hay Quỷ Tài : Lý Hạ. 
6.  詩佛:王維          Thi Phật : Vương Duy.
7.  詩囚:孟郊          Thi Tù : Mạnh Giao.
8.  詩奴:賈島          Thi Nô : Giả Đảo.
9.  詩骨:陳子昂         Thi Cốt : Trần Tử Ngang.
10.詩狂:賀知章        Thi Cuồng : HạTri Chương.
11.詩傑:王勃           Thi Kiệt : Vương Bột.
12.詩天子:王昌齡       Thi Thiên Tử : Vương Xương Linh.
13.詩腸:張籍           Thi Trường : Trương Tịch. 
15.詩囊 : 齊己           Thi Nang : Tề Kỷ.



        Hẹn bài viết tới !    
          
                                             
                  杜紹德

                 ĐỖ CHIÊU ĐỨC  
     

NGỒI DỰA LÃO MAI - TỪ KẾ TƯỜNG


 

NGỒI DỰA LÃO MAI
Ngôi nhà lầu ấy hiện ra trước mắt tôi giống như trong truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh. Màu ngói cũ phủ rêu xanh mốc trắng nằm lặng dưới nền trời chiều, cái mái rêu phủ cả sức nặng thời gian ấy, ở những chỗ ngói bể không hiểu sao lại nhô lên mấy bụi cỏ gió trơ gầy, phất phơ như điểm xuyết thêm cho bức tranh gam màu lạnh toát lên cho người ngắm không gian u hoài một cảm xúc nao lòng. Những khoảng tường trống ngày xưa chúng tôi chơi trốn tìm, những bậc cầu thang uốn lượn dẫn lên vuông sân hoang phế với màu gạch của buổi phai tàn ngày xưa chúng tôi tắm mưa đùa giỡn tiếng cười đi xuyên qua các căn phòng trống của ngôi nhà không còn ai, chỉ trơ những cái bóng lừng lững của mấy hàng cột cháy đen.
Dưới chân khoảng bao lơn ôm lấy vuông sân xưa cũ vẫn chi chít những hàng cây lách tách lá xanh, bông tím, nhô ra những chùm trái khô đen có hình dạng như những cây tăm xỉa răng, bê trong có rất nhiều hạt giống như hột é. Chúng tôi vẫn thích trò chơi nghe âm thanh lách tách bằng cách ngắt những chùm trái khô đen này ngâm vào chén nước mưa, lập tức những trái lách sẽ nứt ra làm đôi và những cái hạt bên trong sẽ nổ “ lách tách” giòn tan giữa ánh mắt tròn xoe của đám trẻ con lên chín, lên mười vì đã phát hiện ra một loại trái nghộ nghĩnh. Tất nhiên những hàng cây hoang dại hoa tím, trái khô cong ấy không phải tên “ lách tách”. Chúng có một cái tên khác nhưng tôi không còn nhớ, chỉ nhớ rằng, ngày xưa chúng tôi gọi cây này là cây lách tách.
Ngôi nhà lầu có lẽ xây dựng suýt soát 100 năm,nhưng những viên gạch nền còn sót lại sau những năm tháng thăng trầm của ngôi nhà và nhiều thế hệ chủ nhân vẫn còn như mới tinh khôi, màu xanh da trời, độ bóng láng như gương và hoa văn in chìm rất sắc sảo. Loại gạch này không chỉ lót nền mà còn gắn trên bệ cửa rộng đủ một người nằm, ngày ấy, vào những buổi trưa gay gắt nắng, chúng tôi vẫn nằm ở đây ngắm mây trời bay qua khu vườn rộng mênh mông phía trước ngôi nhà lầu và lắng nghe cảm giác mát lạnh sảng khoái dưới lưng áo. Tôi đã có những buổi trưa tuyệt vời, nằm ngủ miên man trong tiếng chim sẻ kêu ríu rít trên mái ngói hay những hốc tường bể, lỗ hổng của những thanh đòn tay, vì kèo mục ruỗng mà lũ chim sẻ thích chọn làm tổ.
Trong khu vườn mênh mông trồng vú sữa trắng, vú sữa tím mà vào dịp Tết cành nhánh lủng lẵng trái chín rất đẹp, những bụi bông trang vàng, đỏ, bùm sụm, dạ lý thủy bông trắng từng chùm rũ xuống, rất thơm. Rồi những bụi chuối Tây, cau kiểng, thiên tuế giương những tàu là hình răng lược mà ngày đó bọn trẻ con chúng tôi không biết chúng quý hiếm thế nào, chỉ thấy sờ ợ những chiếc răng nhỏ, sắc bén như gai tre này. Đặc biệt nhất trong khu vườn là những cây mai vàng trồng trong chậu xoay to lớn xếp thành hàng dài làm một thứ hàng rào tự nhiên ngăn khu vườn với con đường chạy ngang phía trước ngôi nhà lầu. Những cây mai vàng rất cao cành nhánh bung ra tự nhiên, đẹp hoang sơ sẽ được tuốt hết lá già từ chiều 20 tháng chạp để đơm nụ và kịp nở đúng hôm 30 tết. Tôi là một thành viên luôn có mặt để phụ tuốt lá mai với với ba chị em con của chủ nhân ngôi nhà lầu ấy mà không hiểu sao tôi lại gọi bằng bà ngoại ba, và gọi ba chị em con bà tuổi liền kề nhau bằng dì: dì Mười Điểm, dì Mười Bé và dì Mười Út.
Hồi đó dì Mười Điểm khoảng 16 tuổi, dì Mười Bé 15 và dì Mười Út 14. Dì Mười Điểm đẹp nhất, gương mặt rất thánh thiện, phúc hậu, nước da trắng hồng, mái tóc đen buông dài…họ học trên Mỹ Tho và trở về buổi trưa theo chiếc đò máy ngược nước thủy triều lên với cuộc hành trình tất bật ngày cuối năm ghé ngang Bến Bạ để kịp vào chiều 20 rũ nhau tuốt lá mai. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in ba gương mặt con gái ấy, mỗi người một vẻ “ mười phân vẹn mười”, nghĩa là cả ba cô gái đều đẹp lộng lẫy, rất “ tiểu thư” và hầu như cả ba cô gái đều rất thương mến tôi, nhưng có lẽ thương và gần gũi với tôi hơn cả là dì Mười Điểm. Mỗi năm nghỉ học về nhà ăn tết, bao giờ dì Mười điểm cũng có quà cho tôi, khi thì cây viết mực, khi thì quyển sách, khi thì bộ quần áo. Còn dì Mười Bé và dì Mười Út thường cho tôi những thanh kẹo sô cô la hoặc những trái ổi sẻ, trái lý, trái sa-bô-chê, hoặc trái lựu có rất nhiều trong vườn quanh nhà. Cách tuốt lá mai của ba chị em cũng rất lạ, không bao giờ chia ra mỗi người tuốt một cây mà cả ba cùng xúm nhau tuốt với tôi nữa lá bốn, tướt từ gốc lên tên ngọn mai và khi họ vói tay không tới thì dì Mười Điểm lập tức nhìn tôi bằng đôi mắt có hàng mi dài, mở to, đen tròn, với sức hút mãnh liệt và nở nụ cười rất đẹp, giọng rất ngọt ngào: “ cưng, đi lấy cái thang”.
Hơn ba mươi năm chiến tranh trôi qua, trong thời gian ấy ba chị em dì Mười Điểm cũng qua hết thời thiếu nữ, mỗi người chắc đã có gia đình riêng và nổi trôi theo số phận đời mình. Tôi hoàn toàn không gặp lại cả ba chị em họ trong suốt thời gian chiến tranh và sau ngày giải phóng có dịp trở lại quê nhà tới thăm ngôi nhà lầu, người chủ mà tôi gọi bằng bà ngoại ba đã chết, ngôi nhà dưới phía sau ngôi nhà lầu rộng thênh thang với bàn ghế xưa, tủ thờ khảm xà cừ và những cây cột gõ mun hai người vòng tay ôm mới hết hoàn toàn biến mất, chỉ còn trơ lại nền đất trống hoang tàn. Ngôi nhà lầu vẫn còn đứng vững nhưng giờ trông càng hoang phế hơn, ba chị em con bà ngoại ba mà tôi gọi bằng dì cùng thứ mười nghe nói đã ra nước ngoài. Khu vườn nhiều cây trái đã không còn dấu vết của những chậu thiên tuế, đặc biệt là những cây mai trồng trong chậu xoay to lớn cũng biến mất, khu vườn đầy cỏ dại và lá mục. Trong buổi chiều 30 tết càng toát lên vẻ hoang vắng, thôi thúc lòng tôi một nỗi hoài niệm ngậm ngùi.
Nhưng thật bất ngờ làm sao khi tôi phát hiện ra một gốc mai cổ thụ còn sót lại ở góc trái cuối khu vườn. Đúng là dáng một “ lão mai”, gốc rất to, sù sì gân guốc, tàn lá cao rộng, rậm rì, chí chít lá là lá. Do không ai chăm sóc và tuốt lá nên cho đến giờ này “ lão mai” cũng chỉ lác dác vài ba chồi nụ hiếm hoi trong khi ngày xuân đã chực chờ bên thềm cửa. Tôi vội trèo lên, làm công việc tuốt lá mai giống như ngày xưa với ba chị em dì Mười Điểm. Khi những chiếc lá cuối cùng rơi xuống gốc “ lão mai” tôi đã có một thảm lá héo vàng rất dày bay mùi thơm của nhựa sống vừa tươm ra ở chỗ những “vết thương” còn để lại trên cành nhánh trơ trụi, sần sùi. Ở chỗ những “ vết thương sâu” ấy đã bắt đầu có sự sống mới đang hồi phục, luân chuyển và ngày mai sẽ bung ra chồi nụ xanh tươi để bừng nở một mùa vàng. Tôi ngồi xuống thảm lá mai mới ngắt, tựa lưng vào cái gốc sần sùi vững chắc chứa đựng nhiều năm tháng ấy và ngước lên một khoảng trời chiều sót lại những vạt nắng muộn nhạt màu, bàng bạc như cảm xúc xa vời vợi tận đâu đâu chợt kéo ùa về. Tôi nhắm mắt và thả tâm hồn mình lang thang vào cõi không gian ùn ùn kỷ niệm ấy với hình ảnh của ba chị em dì Mười Điểm trong một chiều cuối năm cùng tuốt lá mai chờ tết. Họ đang ở đâu?
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(thơ Vũ Đình Liên).


TỪ KẾ TƯỜNG